Người nông dân xứ Thanh làm giàu với giống rau bản địa
Từ loại rau từng gắn với những năm tháng nghèo khó, ông Ngọc ở thôn Phúc Gia (xã Thọ Long, tỉnh Thanh Hóa) đã gây dựng thành vùng trồng rau má quy mô lớn, từng bước tạo dựng sinh kế ổn định trên đồng đất quê hương. Tại Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi Đồng Ngâu, ông vừa là người quản lý, vừa trực tiếp làm từ khâu làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến, đóng gói và tiếp thị sản phẩm.

Với ông Ngọc, rau má không chỉ là cây trồng mưu sinh, mà còn là một phần ký ức khó quên của những năm tháng thiếu thốn. Gia đình có sáu anh em, nhiều bữa ăn ngày trước phải trông vào rau má thay cơm. Ký ức ấy khiến ông càng trân trọng loại cây dân dã này, để rồi sau nhiều biến cố, chính rau má lại trở thành hướng đi giúp gia đình ông vươn lên.
Câu chuyện khởi nghiệp với cây rau má bắt đầu sau trận lụt lớn năm 2017. Khi nước rút, phần lớn hoa màu trong vườn bị cuốn trôi, đất bùn lầy, cây cối ngổn ngang. Giữa khung cảnh tưởng như không còn gì để bám víu, ông phát hiện một bụi rau má nhỏ vẫn bám trụ trên gò đất cao.
Từ vài bụi rau má ban đầu, cây dần bén đất, lan rộng theo thời gian. Vợ ông hái đem ra chợ bán, mỗi kg được 25.000 - 30.000 đồng, đủ mua gạo cho bữa ăn hằng ngày. Có thêm đồng ra đồng vào, ông bắt đầu chăm chút, gây lại vườn. Rau má từ vài đám nhỏ thành luống, rồi từng bước mở rộng thành vùng trồng.
Giữ giống rau má bản địa, làm sạch từ đồng ruộng
Ông Ngọc cho biết loại rau má ông trồng là giống bản địa, vốn mọc dại lâu đời ở vùng quê. Rau có lá nhỏ, cuống mảnh, thân dai, vị đậm và thơm hơn so với một số giống lai. Tuy nhiên, giống rau má cổ này chỉ hợp với vài tháng hè, chịu rét kém, năng suất không cao bằng rau má lai. Dù vậy, ông vẫn kiên trì giữ giống vì muốn bảo toàn hương vị riêng của sản phẩm.

Để có vùng rau má xanh tốt, sạch và ổn định không phải việc đơn giản. Nhìn qua, việc trồng rau chỉ xoay quanh các khâu quen thuộc như làm đất, bón phân hữu cơ, tưới nước, nhưng với ông Ngọc, khó nhất là giữ cho rau thật sạch. Vì không sử dụng thuốc diệt cỏ, khâu nhổ cỏ phải làm thủ công, mỗi tháng tới ba lần, tốn nhiều công thuê mướn.
Sâu đất cũng là nỗi lo thường trực. Loại sâu này phá hoại âm thầm, ban ngày khó phát hiện, đến tối mới bò lên ăn lá. Muốn xử lý hiệu quả, người trồng phải canh đúng thời điểm, thường vào khoảng 19 giờ, mang đèn ra đồng phun thuốc sinh học. Công việc lặp đi lặp lại, đòi hỏi sự kiên trì và tỉ mỉ.
“Nếu phun thuốc sai giờ coi như mất công, tốn của. Còn dùng thuốc hóa học thì rau không còn sạch và hại cả cây”, ông Ngọc chia sẻ.
Có năm sâu đất bùng phát mạnh, ông mất trắng liền bốn lứa rau. Mỗi đợt sâu phá hại không chỉ làm thiệt hại sản lượng, mà còn khiến ông phải cải tạo lại đất, tốn thêm nhiều công sức và chi phí. Dù vậy, ông vẫn chấp nhận làm lại từ đầu để giữ nguyên tắc sản xuất an toàn.
Không chỉ áp dụng trong vùng trồng của gia đình, ông Ngọc còn yêu cầu các hộ nông dân liên kết tuân thủ nghiêm quy trình: không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, không dùng phân bón hóa học, chỉ dùng chế phẩm sinh học trong chăm sóc. Theo ông, rau trồng bằng hóa chất có thể xanh mướt hơn, nhưng chất lượng và độ bền sản phẩm không bảo đảm.
Chế biến sâu để nâng giá trị rau má
Năm 2019, Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi Đồng Ngâu được thành lập, liên kết với hơn 10 hộ nông dân cùng tham gia sản xuất. Đến nay, diện tích trồng rau má đã mở rộng lên hơn 2ha. Bình quân mỗi sào cho thu hoạch khoảng 4 - 6 tạ/tháng, sản lượng hằng năm đạt hàng chục tấn.
Tuy nhiên, thị trường rau má tươi không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có thời điểm rau được mùa nhưng giá giảm, thậm chí cắt xong chưa kịp bán đã héo. Nhìn sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, ông Ngọc bắt đầu nghĩ đến hướng chế biến thành bột rau má để kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Quyết tâm làm đến cùng, ông mạnh dạn vay vốn đầu tư máy sấy lạnh, máy sao rang, máy đóng gói với tổng chi phí lên tới vài tỷ đồng. Những ngày đầu, ông gần như “ăn ngủ” cùng máy móc để học cách vận hành. Rau má sau thu hoạch được đưa vào quy trình xử lý kỹ, từ phân loại, rửa, hấp sấy đến nghiền và đóng gói. Riêng khâu đóng gói được thực hiện trong phòng lạnh, khử khuẩn bằng tia UV để bảo đảm an toàn và giữ chất lượng sản phẩm.
Có thời điểm, sản phẩm được thị trường đón nhận, đối tác nước ngoài tìm đến đặt hàng. Nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, nguyên liệu thô cồng kềnh, chi phí bảo quản cao khiến ông phải tính toán lại hướng đi. Chưa kịp xoay xở hết khoản nợ đầu tư, năm 2025 những trận lũ lớn tiếp tục gây thiệt hại nặng, cuốn đi nhiều diện tích rau chưa kịp thu hoạch, thiệt hại lên tới hàng tỷ đồng.
Dù áp lực chồng chất, ông Ngọc không bỏ cuộc. Để giảm phụ thuộc vào đầu ra rau tươi, ông tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm chế biến sâu từ rau má như bột nguyên chất, rau má đậu xanh, rau má hạt sen, trà rau má. Nhờ đó, sản phẩm bảo quản được lâu hơn, giá trị thương phẩm cũng cao hơn.
Hiện các sản phẩm rau má Đồng Ngâu đã có mặt tại nhiều nơi, trong đó có các đại lý ở các tỉnh phía Bắc. Dù nhận được không ít đơn hàng lớn, ông Ngọc vẫn lựa chọn cách làm thận trọng, chưa mở rộng ồ ạt để bảo đảm chất lượng và giữ uy tín sản phẩm.
Sau khi trừ chi phí, mỗi năm gia đình ông thu về khoảng 500 - 600 triệu đồng. Năm 2024, bột rau má Đồng Ngâu được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao và đạt chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm. Từ loại rau từng giúp nhiều gia đình cầm cự qua ngày, rau má nay đã trở thành sản phẩm hàng hóa, mở ra hướng làm kinh tế mới cho nông dân xã Thọ Long.