10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 3/5, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,89%. Cụ thể, 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,59% (tác động làm tăng CPI chung 0,59 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá gas tăng 35,3% (tác động làm tăng CPI chung 0,46 điểm phần trăm); giá dầu hỏa tăng 26,95%; giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 4,28%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,11%; dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 1,24%; điện sinh hoạt tăng 1,06%; dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,84%; giá thuê nhà tăng 0,79%, trong đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,93%. Ở chiều ngược lại, giá nước sinh hoạt giảm 1,11% do sản lượng tiêu thụ giảm.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,85% do chi phí nhập khẩu, sản xuất và phân phối tăng. Trong đó, giá nước tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 1,50% so với tháng trước; nước giải khát có ga tăng 1,29%; thuốc lá tăng 1,25%; rượu bia các loại tăng 0,64%; nước quả ép tăng 0,45%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới. Ảnh minh họa
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,78% do chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển tăng. Trong đó, một số mặt hàng có mức giá tăng: Giá sửa chữa thiết bị gia đình tăng 1,40%; đèn điện thắp sáng và giường, tủ, bàn ghế cùng tăng 0,99%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,97%; quạt điện tăng 0,79%; nồi điện tăng 0,75%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,72%; tủ lạnh tăng 0,62%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,47%; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,33%. Ở chiều ngược lại, giá thuê người phục vụ giảm 0,11% do nhu cầu thuê dọn dẹp, giúp việc giảm sau thời gian cao điểm Tết Nguyên đán.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,64%, chủ yếu do chỉ số giá dịch vụ hiếu hỉ tăng 1,04%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,77%; đồ dùng cá nhân tăng 0,72%. Ở chiều ngược lại, nhóm đồ trang sức giảm 4,11% theo giá vàng trong nước.
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,63%, chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,71% (du lịch trong nước tăng 1,78%; du lịch ngoài nước tăng 1,25%); dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 1,02%; dịch vụ thể thao tăng 0,89%; khách sạn, nhà khách và đồ chơi trẻ em cùng tăng 0,69%; thiết bị thể dục thể thao tăng 0,61%.
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58% (tác động làm CPI chung tăng 0,21 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,67%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,94% (tác động tăng 0,18 điểm phần trăm); riêng nhóm thực phẩm có chỉ số giá không đổi.
Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,52% do chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và nhân công tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giày dép tăng 1,20%; dịch vụ may mặc tăng 1,19%; mũ nón tăng 0,74%; vải các loại tăng 0,62%; may mặc khác tăng 0,61%; quần áo may sẵn tăng 0,45% do chi phí đầu vào tăng.
Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,17%, trong đó, giá máy điện thoại di động thông thường tăng 1,19%; máy vi tính và phụ kiện tăng 1,14%; dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,87%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,36%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,11%. Ở chiều ngược lại, giá thiết bị âm thanh màu giảm 0,40%; máy điện thoại cố định giảm 0,04%.
Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13% chủ yếu do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược và chi phí sản xuất, phân phối tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc chống dị ứng và nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt cùng tăng 0,57%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,46%; hoóc môn và thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 0,43%; thuốc tim mạch tăng 0,42%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,33%.
Nhóm giáo dục tăng 0,08%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,04% chủ yếu do một số trung tâm gia sư, dạy thêm điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, sản phẩm từ giấy tăng 0,82%; bút viết các loại tăng 0,71%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,66%.
Mặt bằng giá cơ bản ổn định
Theo Cục Thống kê, riêng nhóm giao thông giảm 0,81% (tác động làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm) chủ yếu do giá xăng giảm 3,19% giảm theo giá thế giới. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng và dịch vụ giao thông tăng giá như sau: Chỉ số giá dầu diezen tăng 18,55%; chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 12,43%; chỉ số giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 1,35%; chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 1,17%; giá dịch vụ trông giữ xe tăng 1,22%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,93%; giá xe đạp tăng 0,82%; xe ô tô mới tăng 0,42%; xe máy tăng 0,23%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,25%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,71%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,89%; giao thông tăng 3,48%; giáo dục tăng 3,25%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,38%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,05%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,94%; riêng thông tin và truyền thông giảm 0,09%.
Cũng theo báo cáo, lạm phát cơ bản tháng 4 tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,99% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/4/2026, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.761,71 USD/ounce, giảm 2,4% so với tháng 3/2026. Trong tháng 4/2026, giá vàng thế giới giảm do hoạt động chốt lời của các nhà đầu tư sau giai đoạn tăng mạnh trước đó. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 4 giảm 6,71% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng tăng 54,24%; so với tháng 12/2025 tăng 10,83%; bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 75,13%.
Giá USD trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 27/4/2026, chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân tháng 4 đạt mức 98,63 điểm, giảm 0,73% so với tháng trước do chiến tranh thương mại leo thang, thị trường đang kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất trong nửa cuối năm 2026. Trong nước, giá USD bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.360 VND/USD. Chỉ số giá USD tháng 4 tăng 0,17% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,31% so với tháng 12/2025; bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá USD tăng 2,29%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng.
