Không còn nhiều dư địa cho xăng khoáng
Sau gần một thập kỷ triển khai xăng E5 trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của lộ trình nhiên liệu sinh học khi xăng E10 chính thức được đưa ra thị trường từ ngày 1/6/2026 theo Thông tư 50/2025/TT-BCT ngày 7/11/2025 của Bộ Công Thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam. Nếu trước đây, câu chuyện xăng sinh học chủ yếu được nhìn dưới góc độ bảo vệ môi trường thì nay, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu liên tục biến động, xăng E10 đang được đặt trong một yêu cầu lớn hơn là góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Xăng dầu được ví là “bánh mì” của nền kinh tế. An ninh xăng dầu Việt Nam phụ thuộc vào trữ lượng tài nguyên dầu khí, năng lực công nghệ thăm dò - khai thác - chế biến, cũng như khả năng đa dạng hóa nguồn cung và hiệu quả của hệ thống quản lý thị trường xăng dầu.
Nắm giữ trữ lượng dầu mỏ 4,4 tỷ thùng, Việt Nam được Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) xếp là nước có trữ lượng dầu thô đáng kể trong khu vực châu Á. Sau gần 50 năm phát triển, ngành dầu khí Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng.
Hiện tại, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đang triển khai hoạt động khai thác tại 36 mỏ dầu khí với 21 hợp đồng trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Tuy nhiên, theo PVN, gần đây, các mỏ khai thác chính đều đang ở giai đoạn suy giảm tự nhiên dẫn đến sản lượng khai thác dầu trong nước trong giai đoạn 2016 - 2020 suy giảm trung bình ở mức 11%/năm. Sản lượng dầu thô của Việt Nam đã giảm mạnh từ khoảng 365.000 thùng/ngày năm 2005 xuống dưới 120.000 thùng/ngày vào năm 2025. Một số mỏ khí lớn đã suy giảm sản lượng trong những năm gần đây, làm gia tăng áp lực bảo đảm nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế.
Suy giảm nguồn dầu thô trong nước là điều không thể tránh khỏi bởi dầu thô là nguồn tài nguyên hữu hạn. Xu thế suy giảm dầu thô cũng là xu thế tất yếu trên thế giới.
Đó là với dầu thô, còn đối với xăng dầu, hiện nay, Việt Nam đang phải nhập khẩu 30% nhu cầu sử dụng trong nước. 70% còn lại có 30% nhập khẩu hoàn toàn, 40% được sản xuất từ Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, nhưng nguồn cung dầu thô để sản xuất ra lượng xăng dầu này cũng phải nhập từ nước ngoài. Với nhu cầu sử dụng xăng dầu càng ngày càng tăng cao theo sự tăng trưởng kinh tế, yêu cầu sử dụng xăng dầu tiết kiệm cũng như tìm kiếm những nguồn khác để đa dạng hoá nguồn cung là điều không thể tránh khỏi. Ethanol là một trong những nguồn như vậy. Đáng chú ý, thế giới đã sử dụng Ethanol để pha xăng dầu hàng chục năm, chứ không phải bây giờ.
Tại Việt Nam, lộ trình phát triển xăng E10 hiện nay không phải một quyết định mang tính tình thế hay thử nghiệm chính sách. Đây là quá trình đã được hoạch định từ nhiều năm trước, bám sát các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ về chuyển đổi năng lượng. Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, việc triển khai xăng E10 được Bộ Công Thương thực hiện nghiêm theo Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các nghị quyết này đều đặt ra yêu cầu giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh. Tức là lộ trình triển khai nhiên liệu sinh học của Bộ Công Thương đều thực hiện theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, không phải quyết định tức thời.
Thực tế cho thấy, áp lực đối với nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng lớn. Thị trường năng lượng thế giới liên tục biến động bởi xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông. Giá dầu, chi phí logistics và vận chuyển quốc tế đều tiềm ẩn nhiều rủi ro. Còn nhớ, chỉ cách đây vài tháng, không chỉ Việt Nam mà cả thế giới lao đao khi eo biển Hormuz, nơi trung chuyển khoảng hơn 20% lượng dầu mỏ và một khối lượng lớn khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu bị phong toả. Nỗi lo không có đủ xăng dầu để sử dụng khiến cơ quan quản lý, doanh nghiệp phải chong đèn làm việc 24/24h để tìm ra nguồn cung. Câu hỏi duy nhất lúc đó là: Làm sao để có xăng dầu sử dụng?
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam nhấn mạnh thêm rằng, chương trình triển khai E10 diễn ra đúng thời điểm thị trường năng lượng thế giới chịu nhiều sức ép do xung đột và căng thẳng tại Trung Đông. Khó khăn không chỉ nằm ở việc tiếp cận nguồn dầu thô và sản phẩm dầu mỏ, mà còn ở khâu vận chuyển khi nhiều tàu chở dầu bị mắc kẹt, làm giảm nguồn cung tàu vận tải toàn cầu, kéo theo cước vận chuyển tăng mạnh. Trong bối cảnh đó, tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào xăng khoáng đồng nghĩa với việc nền kinh tế sẽ đối mặt rủi ro lớn hơn về nguồn cung nhiên liệu trong dài hạn.
Đó cũng là lý do Bộ Công Thương xác định việc phát triển xăng E10 không đơn thuần là thay đổi một loại nhiên liệu, mà là bước chuyển trong chiến lược bảo đảm tự chủ năng lượng quốc gia. Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, việc sử dụng xăng E10 giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và nâng cao khả năng tự chủ năng lượng quốc gia.
Ở góc độ thị trường, ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam phân tích sâu hơn, khi pha 10% ethanol vào xăng để tạo thành E10, đồng nghĩa lượng xăng khoáng tiêu thụ sẽ giảm khoảng 10%. Điều này giúp giảm áp lực lên nguồn nhiên liệu hóa thạch trong khi vẫn bảo đảm tổng sản lượng cung ứng cho thị trường. Do đó, việc phát triển E10 góp phần bảo vệ môi trường, giúp nâng cao tính chủ động của thị trường nhiên liệu trong nước.
Chuyển đổi năng lượng không thể chậm hơn
Một trong những điểm đáng chú ý trong Thông tư số 50 là từ ngày 1/6/2026 sẽ không còn duy trì song song xăng khoáng và nhiên liệu sinh học như giai đoạn trước. Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, trước đây Việt Nam áp dụng song song xăng khoáng và xăng sinh học để người dân có thời gian thích nghi, doanh nghiệp hoàn thiện hạ tầng và nguồn cung. Tuy nhiên, thực tiễn quốc tế cho thấy việc duy trì quá nhiều chủng loại nhiên liệu trong thời gian dài sẽ làm tăng chi phí logistics, tồn chứa và phân phối, đồng thời làm giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi năng lượng xanh.
Nhìn rộng hơn, đây là bài toán mà nhiều quốc gia đã phải giải quyết. Mỹ, Brazil, Thái Lan hay Philippines đều đã sử dụng E10 trong thời gian dài, thậm chí triển khai các tỷ lệ phối trộn cao hơn như E15, E20. Đồng nghĩa là, xu hướng giảm dần tỷ trọng xăng khoáng là quá trình khó đảo ngược trên toàn thế giới, khi dầu thô để chế tạo xăng khoáng mỗi ngày một giảm dần.
Tuy nhiên, để các dòng xe cũ (sản xuất trước năm 2010) có thời gian thích nghi, Bộ Công Thương cho biết, từ nay đến năm 2030 vẫn tiếp tục duy trì xăng E5 RON92. Quan điểm của Bộ là phát triển nhiên liệu sinh học phải đi cùng yêu cầu bảo đảm an toàn kỹ thuật, chất lượng nhiên liệu và quyền lợi người tiêu dùng.
Rõ ràng, câu chuyện E10 giờ đây không còn là “có nên dùng hay không”, mà là Việt Nam phải chuẩn bị như thế nào cho giai đoạn nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng chịu áp lực lớn hơn. Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu diễn ra ngày càng mạnh mẽ, E10 đang trở thành bước đi tất yếu nếu Việt Nam muốn bảo đảm an ninh năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và xây dựng nền kinh tế xanh trong dài hạn.
Từ ngày 1/8/2025, xăng E10 đã được sử dụng thử nghiệm tại một số thành phố lớn và các doanh nghiệp cho biết không ghi nhận ý kiến phản hồi tiêu cực từ người tiêu dùng.