Thứ sáu, 05/06/2026

Nhận diện những 'nút thắt' cản bước kinh tế biển

Xung đột không gian biển, thiếu hạ tầng hậu cần, cơ chế quản lý chồng chéo là những rào cản hạn chế khả năng khai thác tiềm năng và thu hút đầu tư vào ngành kinh tế biển.

Nhận diện những 'nút thắt' cản bước kinh tế biển — UBND tỉnh Quảng Ninh

Nhiều điểm nghẽn cản trở khai thác tiềm năng biển

Tại Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” diễn ra ngày 5/6, nhiều ý kiến cho rằng mặc dù Việt Nam sở hữu tiềm năng biển lớn, song quá trình khai thác và phát triển vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về thể chế, quy hoạch và cơ chế điều phối.

Tọa đàm bên lề Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”. Ảnh: Tùng Đinh

Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết địa phương có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển gắn với công nghiệp xanh, thương mại dịch vụ và cảng biển. Tuy nhiên, Quảng Ninh đang đối mặt với bốn “nút thắt” lớn. Đó là độ mở nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng cảng biển; hạ tầng hậu cần thủy sản và logistics ven biển còn thiếu; xung đột không gian giữa công nghiệp, bảo tồn và du lịch ngày càng rõ nét; đồng thời chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn.

Theo ông Nguyễn Văn Công, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác điều phối không gian biển. Để phát huy lợi thế biển, Quảng Ninh đang triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý không gian biển, phát triển hạ tầng logistics, chuyển đổi số trong quản trị biển, tháo gỡ các vướng mắc chính sách và bảo tồn hệ sinh thái ven biển.

Ông Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, cho rằng, dù xác định kinh tế biển là một trong những trụ cột phát triển với các lĩnh vực trọng tâm như cảng biển, logistics, công nghiệp ven biển, du lịch và thủy sản, Thanh Hóa vẫn gặp khó khăn trong thu hút đầu tư tư nhân và tăng cường liên kết giữa các địa phương ven biển.

Ông Cao Văn Cường cũng kiến nghị, cần mở rộng không gian phát triển mới để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế kinh tế biển. Đồng thời, sớm hoàn thiện quy hoạch không gian biển và ban hành các cơ chế ưu đãi đặc thù nhằm thu hút đầu tư, phát triển các ngành kinh tế biển, đặc biệt là chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho biết ngành điện đang đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế biển trọng điểm theo tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW. Thông qua đầu tư hệ thống điện và hạ tầng năng lượng, EVN đã góp phần thúc đẩy phát triển du lịch biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp ven biển cũng như các ngành năng lượng tái tạo trên biển.

Theo ông Nguyễn Tài Anh, hạ tầng năng lượng cần được xem là nền tảng cho phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới. Vì vậy, EVN kiến nghị Chính phủ xem xét đưa các công trình năng lượng biển, bao gồm điện gió ngoài khơi, năng lượng sóng biển trong tương lai, hệ thống truyền tải điện dưới biển và hạ tầng cấp điện cho các đảo, vào nhóm hạ tầng chiến lược quốc gia để được ưu tiên trong quy hoạch và bố trí nguồn lực đầu tư.

EVN cũng đề xuất tiếp tục ưu tiên huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước và khu vực tư nhân để triển khai các chương trình cấp điện cho các đảo tiền tiêu, khu vực biên giới biển và địa bàn đặc biệt khó khăn. Theo doanh nghiệp này, đây không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ phát triển công nghệ năng lượng mới, hệ thống lưu trữ điện quy mô lớn và chuyển đổi số trong lĩnh vực năng lượng. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành nền kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp.

Liên quan đến quy hoạch không gian biển, đại diện EVN cho rằng cần áp dụng cách tiếp cận tích hợp và đồng bộ. Quy hoạch không chỉ tính đến không gian mặt biển dành cho các dự án điện gió ngoài khơi hay năng lượng biển, mà còn phải bao gồm cả không gian dưới biển phục vụ hệ thống cáp và hạ tầng truyền tải điện.

“Quy hoạch không gian biển cần bảo đảm sự kết nối giữa quy hoạch biển quốc gia với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch địa phương. Điều này sẽ giúp sử dụng hiệu quả tài nguyên không gian biển, hạn chế xung đột giữa các ngành kinh tế và tạo điều kiện cho phát triển hạ tầng năng lượng biển trong dài hạn”,ông Nguyễn Tài Anh nhấn mạnh.

Chuyển từ “quản lý biển” sang “quản trị biển”

Nhiều chuyên gia cho rằng vấn đề cốt lõi trong sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này là thay đổi tư duy quản lý. PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nhận định thách thức lớn nhất hiện nay là xử lý hiệu quả các xung đột trong khai thác và sử dụng không gian biển. Theo ông, biển là không gian đa mục tiêu, đa ngành nên không thể tiếp tục quản lý theo cách tiếp cận đơn ngành.

Ông Nguyễn Chu Hồi đề xuất chuyển mạnh sang mô hình quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái. Đồng thời, cần bổ sung các công cụ quản lý dành cho địa phương, trong đó nghiên cứu xây dựng cơ chế phân vùng chức năng không gian biển cấp tỉnh phù hợp với nhu cầu phát triển thực tiễn.“Quy hoạch không gian biển cần được tiếp cận theo phương pháp hiện đại, bắt đầu từ vùng bờ và mở rộng ra toàn bộ không gian biển, thay vì chỉ dừng ở quy hoạch quy mô quốc gia”,PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh.

Cùng quan điểm, TS Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cho rằng lần sửa luật này cần tạo bước chuyển từ “quản lý biển” sang “quản trị biển”. Theo ông, cách tiếp cận quản lý theo ngành trong thời gian qua khiến các lĩnh vực tối ưu hóa lợi ích riêng, dẫn tới chồng chéo trong sử dụng không gian biển và phát sinh nhiều vấn đề môi trường.“Nếu sửa luật mà chỉ tăng cường quản lý mà không tạo được động lực cho phát triển kinh tế biển thì chưa đạt mục tiêu đặt ra”,TS Phạm Ngọc Sơn nhận định.

Ông Sơn cũng đề xuất tăng cường điều tra cơ bản biển, xây dựng hệ thống dữ liệu số biển theo thời gian thực, đổi mới công tác quy hoạch theo hướng phát triển các vùng kinh tế tổng hợp hoặc chuỗi giá trị biển thay vì phân chia cứng theo từng ngành. Đặc biệt, quá trình xây dựng chính sách cần bảo đảm sự tham gia thực chất của doanh nghiệp và cộng đồng.

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Dự thảo cũng đề xuất nhiều cơ chế mới như phân bổ và điều phối không gian biển theo quy hoạch quốc gia; đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển; đồng thời xây dựng các chính sách ưu đãi cho các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển và kinh tế biển xanh.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và đưa kinh tế biển trở thành động lực phát triển mới, việc tháo gỡ các “nút thắt” về quy hoạch, thể chế và nguồn lực không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả tiềm năng biển trong giai đoạn tới.

Các chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp cho rằng cần những đột phá thể chế mạnh mẽ để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.