Kiến tạo hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị
Phát biểu tại Hội thảo tham vấn ý kiến nội dung dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức (NN&MT) sáng ngày 5/6, Thứ trưởng Bộ NN&MT Võ Văn Hưng nhấn mạnh: Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững.
Theo Thứ trưởng, các thị trường hiện nay không chỉ yêu cầu sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng mà còn đòi hỏi truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
“Trong bối cảnh đó, cạnh tranh không còn là câu chuyện của từng hộ sản xuất hay từng doanh nghiệp (DN) riêng lẻ mà là cạnh tranh của cả chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến tiêu thụ và xây dựng thương hiệu”, ông nhấn mạnh.

Đồng thời cho rằng, phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ là một giải pháp, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; Đồng thời hiện thực hóa định hướng chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
Lãnh đạo Bộ NN&MT đánh giá, Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp sau 6 năm triển khai đã tạo khuôn khổ pháp lý ban đầu cho hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.

Tuy nhiên, nhiều mô hình liên kết vẫn thiếu bền vững, quy mô nhỏ lẻ, tình trạng vi phạm cam kết hợp đồng còn xảy ra, năng lực của nhiều hợp tác xã (HTX) còn hạn chế và DN đầu tư vào nông nghiệp vẫn đối mặt với không ít rủi ro.
Từ thực tế đó, Thứ trưởng cho biết, dự thảo nghị định mới được xây dựng với quan điểm chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sản xuất sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp; từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị; từ liên kết ngắn hạn sang hợp tác dài hạn trên cơ sở hài hòa lợi ích và chia sẻ trách nhiệm giữa các chủ thể.

Sau 6 năm triển khai, chính sách liên kết theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP đã góp phần thúc đẩy hình thành gần 3.000 dự án và kế hoạch liên kết, với sự tham gia của hơn 2.400 HTX, 1.300 DN và hơn 211 nghìn hộ nông dân, từng bước hình thành các chuỗi liên kết trong nhiều ngành hàng chủ lực. Giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất dưới hình thức hợp tác và liên kết đã tăng từ khoảng 10% trước năm 2018 lên hơn 31% năm 2025.
Đâu là trọng tâm hỗ trợ?
Một trong những nội dung thu hút sự quan tâm của các DN, HTX là chính sách hỗ trợ phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp.
Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ TN&MT) cho biết, các chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định 98/2018/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào một số nội dung như: tư vấn xây dựng liên kết, hỗ trợ hạ tầng, khuyến nông, đào tạo, hỗ trợ giống và vật tư.
Tuy nhiên, phạm vi và cách thức hỗ trợ còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: Phạm vi hỗ trợ còn hẹp, chưa bao quát đầy đủ các khâu của chuỗi giá trị (đặc biệt là vùng nguyên liệu, logistics, thị trường, chuyển đổi số); Thiếu các chính sách mới đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại như chuyển đổi xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu số; Thiếu tính liên thông, lồng ghép với các chính sách liên quan (Luật HTX năm 2023, Nghị định 113/2024/NĐ-CP, các chương trình mục tiêu quốc gia…); Cách thức hỗ trợ còn mang tính dàn trải, chưa gắn chặt với hiệu quả và kết quả của chuỗi liên kết.

Vì vậy, theo đại diện Cục Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, cần sửa đổi toàn diện chính sách hỗ trợ theo các nguyên tắc chủ đạo sau đây: Chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị, gắn với toàn bộ quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ; Lấy hiệu quả, kết quả đầu ra làm căn cứ hỗ trợ, tăng cường cơ chế hậu kiểm; Ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu, chủ thể trung tâm và các chuỗi quy mô lớn, bền vững; Bảo đảm lồng ghép, đồng bộ với các chính sách hiện hành, đặc biệt là chính sách phát triển HTX và các chương trình mục tiêu quốc gia; Tăng cường phân cấp cho địa phương, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện và giám sát.
Theo đó, hệ thống chính sách được cơ cấu lại thành 5 nhóm, gồm: Hỗ trợ tư vấn và tổ chức liên kết; Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất; Hỗ trợ hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị; Hỗ trợ nâng cao năng lực và phát triển thị trường; Hỗ trợ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và quản trị chuỗi.
Bên cạnh việc mở rộng các nội dung hỗ trợ, Nghị định mới cũng bổ sung một số chính sách mới mang tính đột phá như: chính sách phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn gắn với chuỗi liên kết; chính sách hỗ trợ chuyển đổi số và xây dựng dữ liệu chuỗi giá trị; chính sách hỗ trợ chuyển đổi xanh, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu; cơ chế lồng ghép, huy động đa nguồn lực (ngân sách nhà nước, đầu tư công, chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn xã hội hóa); cơ chế ưu tiên tiếp cận tín dụng, bảo hiểm và các chính sách liên quan đối với các chuỗi liên kết.
Băn khoăn từ thực tế
Đồng tình với định hướng hỗ trợ quy định tại dự thảo nghị định mới, từ thực tế triển khai mô hình liên kết, các ý kiến tỏ ra băn khoăn khi nhiều vấn đề chưa được đề cập trong dự thảo.
Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Tuyên Quang cho rằng địa phương đang rất loay hoay về nguồn lực thực hiện, do đó dự thảo cần quy định rõ nguồn vốn thực hiện từ ngân sách địa phương, các chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn lực hợp pháp khác để tạo cơ sở pháp lý cho địa phương tham mưu, bố trí ngân sách và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Chia sẻ về mô hình liên kết khép kín mà HTX Sản xuất và Thương mại Thủy sản Xuyên Việt đang triển khai, ông Lê Văn Việt - Chủ tịch HĐQT HTX đề nghị dự thảo nghị định cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các mô hình liên kết khép kín, nơi HTX hoặc DN chủ động từ khâu giống, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu, bởi thực tế hiện nay chỉ hỗ trợ khi HTX mua giống từ nơi khác.
Ông Việt cho rằng những mô hình như vậy phải mất nhiều năm mới hình thành được chuỗi liên kết hoàn chỉnh nhưng hiện nay vẫn gặp không ít vướng mắc khi tiếp cận chính sách hỗ trợ. “Cần có cơ chế đặc thù ưu tiên cho những liên kết khép kín như thế”, ông đề xuất.

Bà Vũ Thị Lệ Thủy, Giám đốc HTX 3T Nông sản Cao Phong (Phú Thọ) băn khoăn khi triển khai mô hình chính quyền 2 cấp, các thành viên HTX nằm trong 3 xã thay vì 1 huyện (huyện Cao Phong, Hòa Bình cũ) như trước đây, vậy việc tiếp nhận nguồn lực hỗ trợ sẽ như thế nào?
Đại diện HTX này cũng đề nghị thay vì hỗ trợ dàn trải như hiện nay, chương trình hỗ trợ cần tập trung vào sản phẩm thế mạnh của địa phương để đầu tư sâu, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
“Thực tế có những sản phẩm vào Việt Nam với giá siêu rẻ, không cạnh tranh được, bà con nông dân lại chặt bỏ cây cam truyền thống để trồng cây khác”, bà Thủy lo ngại.
Nhấn mạnh quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp phụ thuộc hóa chất sang nông nghiệp sinh học, phát thải thấp là yêu cầu cấp thiết, bà Nguyễn Việt Chinh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Nông nghiệp Sạch Hữu cơ Toàn Cầu cho rằng trong thực tế quá trình này vẫn gặp nhiều rào cản về thủ tục. Vì vậy DN kiến nghị dự thảo nghị định nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ đột phá trong chuỗi giá trị nông nghiệp thay vì phải chờ hoàn tất toàn bộ quy trình cấp phép truyền thống như hiện nay.
“Thiết kế chính sách cần bảo đảm tính mở, phù hợp với nhiều mô hình liên kết khác nhau; phát huy vai trò của DN dẫn dắt, HTX trung tâm, các tổ chức dịch vụ, logistics, thương mại và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị. Tinh thần là không hành chính hóa mô hình liên kết, nhưng phải định hướng để liên kết vận hành minh bạch, hiệu quả và bảo đảm lợi ích hài hòa của người sản xuất.Thứ trưởng Bộ NN&MT Võ Văn Hưng
Trước các ý kiến tại Hội thảo, Thứ trưởng Võ Văn Hưng cho rằng tinh thần chung là Nhà nước không hỗ trợ thay thị trường, nhưng phải hỗ trợ để giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro và tạo nền tảng cho liên kết phát triển.

Thứ trưởng đặc biệt lưu ý 4 trọng tâm lớn cần tiếp tục nghiên cứu: Thứ nhất, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, đạt chuẩn, bởi nếu không có vùng nguyên liệu ổn định thì rất khó nói đến chế biến sâu hay xuất khẩu bền vững: Thứ hai, phát triển hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị, nhất là sơ chế, bảo quản, logistics, dữ liệu vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc; Thứ ba, chuyển đổi số và quản trị chuỗi giá trị, bởi trong tương lai, cạnh tranh sẽ không chỉ là sản phẩm tốt hơn mà còn là chuỗi minh bạch hơn, quản trị tốt hơn; Thứ tư, nâng cao năng lực của HTX và các chủ thể liên kết, đặc biệt là năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, quản trị hợp đồng và tiếp cận thị trường.
“Chúng ta xây dựng Nghị định này không phải chỉ để thay thế Nghị định 98/2018/NĐ-CP, càng không phải để có thêm một văn bản quy phạm pháp luật. Điều chúng ta hướng tới là tạo lập một nền tảng thể chế mới để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, giúp nông dân, HTX và DN có thể liên kết thực chất hơn, ổn định hơn, cùng chia sẻ lợi ích và phát triển bền vững hơn”, Thứ trưởng nhấn mạnh.