
(Công Thương) - Tiềm năng điện mặt trời ở Việt Nam là rất lớn, song làm thế nào để biến loại hình năng lượng trở thành hiện thực là một bài toán đang được các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng tìm cách tháo gỡ.
Có một nghịch lý nằm ngay trong một ngày của hệ thống điện phía Nam. Đầu giờ chiều, khi nắng gay gắt nhất, gần 17.000 MW điện mặt trời đổ vào lưới như một dòng suối mát. Nhưng đến chín, mười giờ tối, lúc cả triệu chiếc điều hòa vẫn chạy hết công suất, dòng suối ấy đã tắt. Mặt trời đã lặn từ lâu. Đó là lý do vì sao đánh thức điện mặt trời mái nhà phương Nam, dù là việc tất yếu, vẫn phải đi kèm một điều kiện không thể bỏ qua: làm tới đâu, phải lo chỗ cất giữ điện tới đó. Kỳ kết của tuyến bài này nói về tầm nhìn biến mái nhà thành một trụ cột tự chủ năng lượng, và về những điều kiện để tầm nhìn ấy không vỡ trận giữa chừng.
Qua bốn kỳ, tuyến bài đã đi từ tiềm năng và sức ép của một vùng đất ngồi trên mỏ điện sạch, qua hành lang pháp lý mới mở ra với Nghị định 57 và Nghị định 58 năm 2025, đến lợi ích đo được bằng tiền cho cả doanh nghiệp, hộ dân lẫn công sở, rồi nhìn thẳng vào những vùng xám mà thị trường đã đi trước quy định.
Bốn kỳ báo cũng cho thấy một thực tế đáng chú ý: điện mặt trời mái nhà không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp hay từng hộ dân. Từ áp lực bảo đảm cung ứng điện, yêu cầu chuyển đổi xanh của chuỗi cung ứng toàn cầu, đến những thay đổi trong cấu trúc vận hành hệ thống điện quốc gia, nguồn điện trên mái nhà đang dần trở thành một phần của bài toán an ninh năng lượng.
Câu chuyện đến đây không dừng ở việc tháo gỡ từng nút thắt. Câu hỏi lớn hơn là: sau khi gỡ xong, nguồn điện trên mái nhà sẽ đứng ở đâu trong bức tranh năng lượng quốc gia đến năm 2030 và xa hơn nữa?
Tháng 8 năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt mục tiêu đưa tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 50% vào năm 2030. Đó là một con số tham vọng. Để chạm tới nó, không có nguồn điện nào hội đủ ba phẩm chất cùng lúc như điện mặt trời mái nhà: triển khai nhanh, phân tán rộng, và gần như không đòi hỏi đầu tư hạ tầng truyền tải lớn.
Một nhà máy thủy điện hay nhiệt điện khí thường cần nhiều năm từ giai đoạn quy hoạch, thiết kế đến khi đưa vào vận hành, trong khi một hệ thống điện mặt trời mái nhà có thể được lắp đặt và đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn hơn đáng kể. Bên cạnh đó, hàng chục nghìn héc-ta mái nhà xưởng, kho bãi, công sở trên khắp cả nước đều có tiềm năng lắp đặt. Theo ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc NSMO, điểm đáng chú ý là đây là nguồn điện không phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu - trong bối cảnh thị trường than, dầu, khí có nhiều biến động, nguồn bức xạ mặt trời sẵn có tại chỗ giúp giảm sự lệ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài.
Chính ở điểm này, điện mặt trời mái nhà vượt ra khỏi vai trò tiết kiệm chi phí điện của từng doanh nghiệp hay hộ gia đình. Theo ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu tổng công suất điện mặt trời đạt khoảng 46.000 - 73.000 MW vào năm 2030, trong đó riêng điện mặt trời mái nhà khoảng 26.000 MW. Cùng với đó là mục tiêu khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình trên toàn quốc được lắp đặt điện mặt trời.
Hiện nay, toàn hệ thống mới có khoảng 8.400 MW điện mặt trời mái nhà, tương đương khoảng 9% tổng công suất lắp đặt nguồn điện quốc gia. Khoảng cách từ 8.400 MW đến mục tiêu 26.000 MW cho thấy dư địa phát triển vẫn còn rất lớn.
Theo ông Trịnh Quốc Vũ, ý nghĩa của điện mặt trời mái nhà không chỉ nằm ở quy mô công suất. Sự phát triển mạnh của nguồn điện này trong những năm gần đây đã bắt đầu làm thay đổi cách vận hành hệ thống điện quốc gia. Nếu trước đây áp lực cung ứng điện tập trung chủ yếu vào ban ngày thì hiện nay lượng điện mặt trời phát mạnh vào giữa trưa đã giúp giảm đáng kể nhu cầu huy động các nguồn điện khác trong khung giờ này.
Nói cách khác, điện mặt trời mái nhà không còn là nguồn điện bổ sung mang tính hỗ trợ như giai đoạn đầu mà đang từng bước tham gia trực tiếp vào cấu trúc vận hành của hệ thống điện.
Nhìn từ góc độ đó, mái nhà không còn đơn thuần là nơi đặt các tấm pin. Đó là một phần của năng lực tự chủ năng lượng quốc gia, một lớp đệm giúp nền kinh tế giảm bớt sự phụ thuộc vào những biến động khó lường của thị trường nhiên liệu thế giới.
Điện mặt trời dồi dào ban ngày nhưng tắt vào giờ cao điểm tối
Nhưng tầm nhìn càng đẹp thì càng phải tỉnh táo về điều kiện thực hiện. Và điều kiện cốt lõi nhất nằm ở một nghịch lý của chính ánh nắng.
Ông Nguyễn Quốc Trung chỉ ra hai khung giờ chịu áp lực lớn nhất trong ngày của hệ thống điện. Khung thứ nhất là từ 12h30 đến 15h30. Khung thứ hai là từ 21h đến 23h. Vào đầu giờ chiều, dù phụ tải có thể vượt 52.000 MW, hệ thống vẫn có sự đóng góp của gần 17.000 MW từ nguồn điện mặt trời, bao gồm cả điện mặt trời tập trung lẫn mái nhà, giúp san sẻ áp lực cung ứng. Đến khung giờ buổi tối, nguồn điện mặt trời không còn, trong khi nhu cầu chiếu sáng và làm mát vẫn duy trì ở mức cao, tạo áp lực đáng kể lên hệ thống.
Theo ông Trịnh Quốc Vũ, sự phát triển nhanh của điện mặt trời trong những năm gần đây đã làm thay đổi đáng kể biểu đồ phụ tải của hệ thống điện. Nếu như trước đây áp lực cung ứng tập trung nhiều vào ban ngày thì hiện nay lượng điện mặt trời phát mạnh vào giữa trưa đã góp phần kéo giảm nhu cầu huy động các nguồn điện khác trong khung giờ này.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bài toán vận hành không còn nằm ở việc thiếu điện giữa trưa như trước đây, mà dần chuyển sang khả năng đáp ứng phụ tải vào cuối giờ chiều và ban đêm, khi mặt trời giảm phát hoặc không còn phát điện.
Càng phát triển nhiều điện mặt trời, ban ngày hệ thống càng có thêm nguồn bổ sung, nhưng nhu cầu vào khung giờ tối vẫn cần được đáp ứng bằng các nguồn khác. Bài học giai đoạn trước, khi công suất điện mặt trời tăng nhanh trong lúc hạ tầng lưới chưa theo kịp, cho thấy phát triển nguồn điện mặt trời cần đi cùng với đầu tư đồng bộ vào lưới truyền tải và hệ thống lưu trữ.
Một trong những hướng được xem xét để giải quyết áp lực khung giờ buổi tối là phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng BESS. Về nguyên lý, lượng điện mặt trời phát ra vượt nhu cầu ban ngày có thể được tích trữ và sử dụng vào khung giờ cao điểm tối, khi nguồn điện mặt trời không còn. Theo ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc NSMO, việc thúc đẩy lắp đặt hệ thống lưu trữ BESS và nghiên cứu bổ sung yêu cầu về lưu trữ đối với các dự án điện mặt trời triển khai trong thời gian tới là định hướng đang được các cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Định hướng phát triển lưu trữ đã được thể hiện trong quy hoạch. Cùng với mục tiêu 46.000 đến 73.000 MW điện mặt trời, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển 10.000 đến 16.300 MW pin lưu trữ đến năm 2030 - đây là yêu cầu kỹ thuật quan trọng để đảm bảo nguồn điện mặt trời phát huy hiệu quả trong toàn bộ chu kỳ vận hành trong ngày.
Ở góc độ dài hạn, điện mặt trời và lưu trữ không phải hai câu chuyện tách biệt. Chúng đang dần trở thành hai phần của cùng một hệ sinh thái năng lượng mới, nơi nguồn điện được sản xuất phân tán ngay tại nơi tiêu thụ và có khả năng tự cân bằng một phần nhu cầu sử dụng điện trong ngày.
Lưu trữ được đặt thành mục tiêu song hành cùng nguồn
Thực ra, lưu trữ không còn là chuyện viễn tưởng đối với hộ gia đình. Ông Nguyễn Thượng Quân, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Tích hợp Sao Nam, gọi điện mặt trời đi cùng lưu trữ là một giải pháp điểm 10. Một hộ có hóa đơn khoảng 2,4 triệu đồng mỗi tháng, nếu lắp hệ thống 6 kWp kết hợp bộ lưu trữ 16 kWh với chi phí khoảng 100 triệu đồng, có thể gần như không còn phải trả tiền điện cho EVN, thời gian hoàn vốn rơi vào khoảng 3,5 năm. Mô hình hybrid hòa lưới kết hợp lưu trữ đang dần phổ biến, và mỗi viên pin trong nhà dân cũng là một mảnh nhỏ của kho lưu trữ quốc gia. Hàng triệu mảnh nhỏ ấy cộng lại chính là phần mềm dẻo nhất của bài toán lưu trữ.
Mạch đồng hành ấy đã cho quả ngọt. Trong năm tháng đầu năm 2026, riêng địa bàn Tổng công ty Điện lực miền Nam đã tiết kiệm được 1.052 triệu kWh, tỷ lệ 4,42%, vượt mục tiêu tối thiểu 3% mà Chỉ thị 10 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra. Con số đó cho thấy khi lợi ích được nói cho dân hiểu một cách cụ thể, theo đúng tinh thần câu chuyện cơm áo gạo tiền, thì chính sách đi vào cuộc sống rất nhanh.
Qua bốn kỳ của tuyến bài, những vấn đề nổi lên không còn nằm ở câu chuyện có nên phát triển điện mặt trời mái nhà hay không. Câu hỏi hiện nay là làm thế nào để nguồn điện này phát triển nhanh hơn nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống và hiệu quả đầu tư.
Thực tiễn tại các địa phương cho thấy một số vấn đề đang tiếp tục được các cơ quan quản lý, đơn vị vận hành hệ thống điện và doanh nghiệp quan tâm. Đó là việc hoàn thiện quy chuẩn đối với thiết bị chống phát ngược (Zero Export), phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp và tiếp tục điều chỉnh các quy định liên quan đến phần điện dư của hệ thống điện mặt trời mái nhà.
Đáng chú ý, sau hơn một năm triển khai, nhiều nội dung phát sinh từ thực tiễn đã được các địa phương, doanh nghiệp và ngành điện phản ánh tới cơ quan quản lý nhà nước. Đây cũng là cơ sở để Bộ Công Thương tiếp tục rà soát và hoàn thiện các quy định liên quan đến điện mặt trời mái nhà và cơ chế mua bán điện trực tiếp.
Theo ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Bộ Công Thương đã hoàn thiện hồ sơ sửa đổi Nghị định 57 và Nghị định 58 trình Chính phủ xem xét. Một trong những nội dung đáng chú ý là nghiên cứu điều chỉnh các quy định liên quan đến phần điện dư, cơ chế mua bán điện trực tiếp và những tình huống mới phát sinh trong quá trình triển khai thực tế.
Đối với cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), thị trường hiện đã ghi nhận khoảng 50 - 60 hợp đồng thực hiện theo hình thức đường dây riêng. Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán điện trực tiếp đầu tiên thông qua lưới điện quốc gia cũng đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6/2026. Những tín hiệu này cho thấy các chính sách năng lượng tái tạo đang dần bước từ giai đoạn hoàn thiện hành lang pháp lý sang giai đoạn triển khai thực chất trên thị trường.
Trong khi đó, đề xuất nâng tỷ lệ điện dư được bán lên lưới từ 20% lên 50% sản lượng điện phát tại đầu ra đang nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp và hộ đầu tư điện mặt trời mái nhà. Nếu được thông qua, đây có thể là một trong những thay đổi đáng chú ý nhất đối với thị trường điện mặt trời mái nhà trong thời gian tới.
Nhìn rộng hơn, điện mặt trời mái nhà đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Khi quy mô thị trường ngày càng lớn, những vấn đề đặt ra không còn chỉ là lắp thêm bao nhiêu MW công suất, mà là làm thế nào để nguồn điện này vận hành hiệu quả trong toàn bộ hệ thống năng lượng quốc gia.
Mục tiêu phủ điện mặt trời mái nhà đến năm 2030
Trở lại với hình ảnh ở đầu bài. Dòng điện mặt trời ồ ạt vào buổi trưa rồi tắt lịm vào buổi tối không phải là một khiếm khuyết của nguồn điện trên mái nhà. Đó là bản chất của ánh nắng, và bản chất ấy hoàn toàn có thể được hóa giải nếu ta chuẩn bị đủ pin để cất giữ, đủ lưới để truyền dẫn, đủ cơ chế để khuyến khích, và đủ minh bạch để giữ niềm tin của thị trường.
Đánh thức điện mặt trời mái nhà phương Nam, vì thế, là đánh thức một phần năng lực tự chủ của nền kinh tế, một nguồn lực vẫn nằm lặng lẽ ngay trên đầu chúng ta suốt bao mùa nắng. Nhưng đánh thức không có nghĩa là vội vã. Một nguồn lực lớn chỉ trở thành trụ cột thật khi được khai thác bài bản, đồng bộ và đi đường dài. Mặt trời thì hào phóng. Phần còn lại, là việc của con người làm cho tử tế.