Thứ hai, 24/08/2026

Tạo nền tảng mới, mở dư địa phát triển công nghiệp Nghệ An

Sau 5 năm, Nghệ An đã tạo được những chuyển biến quan trọng cả về quy mô sản xuất, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu ngành.

Tạo nền tảng mới, mở dư địa phát triển công nghiệp Nghệ An — Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An

Những chuyển biến rõ nét sau 5 năm triển khai Nghị quyết

Nghị quyết 07-NQ/TU, ngày 23/12/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030 được ban hành trong bối cảnh tỉnh xác định công nghiệp là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Sau khi Nghị quyết được ban hành, công tác tuyên truyền, quán triệt được triển khai đồng bộ; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 174/KH-UBND ngày 14/3/2022 để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm cho các sở, ngành. Nhiều chương trình, đề án, kế hoạch trọng điểm cũng được xây dựng, tạo cơ sở để đưa Nghị quyết vào thực tiễn.

Dấu ấn đầu tiên sau 5 năm là công nghiệp Nghệ An tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và có sự phục hồi rõ nét. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp năm 2025 ước đạt 24.419 tỷ đồng, tăng đáng kể so với mức 13.187 tỷ đồng năm 2021; tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 13,11%. Dù chưa đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra, đây vẫn là nền tảng quan trọng để ngành công nghiệp tiếp tục bứt phá trong giai đoạn tới. Đặc biệt, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2024 ước tăng 16,47%, năm 2025 tăng 18,56%, đưa Nghệ An vào nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao của cả nước và xếp thứ 4 toàn quốc về IIP năm 2025.

Một chuyển biến đáng ghi nhận là cơ cấu nội ngành công nghiệp đi theo hướng tích cực hơn. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 73,65% năm 2021 lên 77,82% năm 2025, trong khi công nghiệp khai khoáng giảm từ 6,62% xuống 5,92%. Xu hướng này phù hợp với yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

Cùng với tăng trưởng sản xuất, công tác thu hút đầu tư tiếp tục là điểm sáng. Tính đến cuối năm 2025, toàn tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 393 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 168.941 tỷ đồng; riêng lĩnh vực công nghiệp có 241 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 110.843 tỷ đồng, chiếm 61,32% số lượng dự án và 65,61% tổng vốn đầu tư. Trong 4 năm liên tiếp, từ 2022 đến 2025, Nghệ An nằm trong nhóm 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất cả nước. Nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, công nghiệp hỗ trợ, dệt may, da giày, vật liệu xây dựng… đã góp phần hình thành những ngành sản xuất mới, tạo việc làm và mở rộng năng lực xuất khẩu của tỉnh.

Đáng chú ý, các dự án Luxshare-ICT, Luxcase, Everwin, Fu Wing, Sunny, Radiant… đang từng bước góp phần hình thành trung tâm sản xuất thiết bị điện tử, thiết bị công nghệ cao tại Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ. Đây không chỉ là sự gia tăng về vốn đầu tư mà còn mở ra cơ hội để Nghệ An tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Một nền tảng khác được tạo dựng trong 5 năm qua là hệ thống hạ tầng phục vụ công nghiệp. Nghệ An đã hoàn thành đầu tư 56 km đường ven biển, 709 km đường giao thông và 25 cầu; nhiều công trình giao thông trọng điểm được đưa vào sử dụng. Hạ tầng kỹ thuật tại Khu kinh tế Đông Nam và các khu công nghiệp được tập trung đầu tư với tổng vốn ngân sách nhà nước 1.439,5 tỷ đồng. Tỷ lệ lấp đầy bình quân các khu công nghiệp đã thành lập đạt hơn 50%. Hạ tầng năng lượng cũng từng bước được hoàn thiện, bảo đảm cung cấp điện ổn định cho sản xuất.

Cùng với đó, công tác phát triển cụm công nghiệp, công nghiệp nông thôn và làng nghề có nhiều chuyển biến. Các chính sách hỗ trợ đã góp phần đầu tư hạ tầng, thúc đẩy đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất; 16 làng nghề mới đã được công nhận trong giai đoạn này. Chương trình khuyến công đã hỗ trợ 184 chương trình, đề án với tổng kinh phí hơn 74,1 tỷ đồng, qua đó tạo thêm động lực cho các cơ sở sản xuất ở khu vực nông thôn.

Nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp cũng được quan tâm hơn. Giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 132.336 người, bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho hơn 46.000 lao động; tỷ lệ lao động có kỹ năng nghề đạt 71,5% năm 2025. Việc liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp được tăng cường, góp phần từng bước thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động.

Đặc biệt, phát triển công nghiệp đã từng bước gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường. Đến năm 2025, 6/6 khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 42/42 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được chứng nhận hoàn thành xử lý, trên địa bàn tỉnh không còn cơ sở thuộc diện này. Đây là một trong những kết quả quan trọng khẳng định định hướng phát triển công nghiệp không chỉ chú trọng tốc độ mà ngày càng quan tâm đến tính bền vững.

Không né tránh những điểm nghẽn

Bên cạnh những kết quả nổi bật, báo cáo sơ kết 5 năm cũng thẳng thắn chỉ ra một số mục tiêu của Nghị quyết 07 chưa đạt yêu cầu. Giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân giai đoạn 2021 - 2025 còn thấp hơn mục tiêu; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng năm 2025 ước đạt 30,89%, trong khi mục tiêu đặt ra là 39 - 40%. Quy mô công nghiệp của Nghệ An vẫn còn khiêm tốn so với một số địa phương phát triển công nghiệp trong khu vực và cả nước.

Đáng chú ý, quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp vẫn còn chậm. Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển tương xứng, doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị và đổi mới công nghệ còn hạn chế. Một bộ phận doanh nghiệp FDI chủ yếu thực hiện gia công, giá trị gia tăng chưa cao, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng còn hạn chế.

Hạ tầng một số khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ; tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung mới đạt 50%. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là kỹ sư, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề trong các lĩnh vực công nghệ cao vẫn thiếu. Ứng dụng khoa học, công nghệ và nền tảng số trong doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực nông thôn, chưa đáp ứng yêu cầu.

Những hạn chế này cho thấy giai đoạn 2026 - 2030 không thể chỉ tiếp tục cách làm cũ, mà cần chuyển mạnh từ “tạo dư địa” sang “khai thác hiệu quả dư địa”, từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn dự án có chất lượng, từ gia công sang nâng cao giá trị gia tăng và từ phát triển công nghiệp đơn ngành sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp có tính liên kết.

Ông Phạm Văn Hoá, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Nghệ An cho biết, trong giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh Nghệ An đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền; xác định phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc triển khai Nghị quyết phải gắn với trách nhiệm cụ thể của từng ngành, từng địa phương, từng người đứng đầu; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá tiến độ và xử lý kịp thời những điểm nghẽn.

Cùng với đó, tổ chức không gian phát triển công nghiệp hợp lý, hình thành các cụm liên kết ngành, gắn khu công nghiệp với giao thông, logistics, đô thị, năng lượng và nguồn nhân lực. Quy hoạch phải thực sự trở thành công cụ mở đường cho phát triển.

Hạ tầng tiếp tục là khâu đột phá. Tỉnh sẽ tập trung nguồn lực hoàn thiện đồng bộ Khu kinh tế Đông Nam và các khu công nghiệp; hỗ trợ nâng cấp các cụm công nghiệp, nhất là hệ thống xử lý nước thải, phòng cháy chữa cháy và hạ tầng giao thông. Đồng thời, phát triển hạ tầng năng lượng, đẩy nhanh các dự án nguồn điện, trong đó có Nhà máy điện khí LNG Quỳnh Lập; phát triển logistics, hướng tới xây dựng Nghệ An trở thành trung tâm logistics của vùng Bắc Trung Bộ, lấy Khu kinh tế Đông Nam, cụm cảng Cửa Lò - Đông Hồi và mạng lưới giao thông kết nối làm trọng tâm.

Trong thu hút đầu tư, tỉnh kiên định quan điểm lựa chọn những dự án có công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, sử dụng năng lượng tiết kiệm, thân thiện với môi trường. Trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng và chế biến nông - lâm - thủy sản. Đối với FDI, hướng tới những dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước thay vì chỉ tạo thêm công suất gia công.

Một giải pháp có tính quyết định là phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện các chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao, cán bộ trẻ có năng lực đổi mới sáng tạo. Chú trọng chăm lo đời sống người lao động. Phát triển đồng bộ nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân, các thiết chế văn hóa, y tế, giáo dục và dịch vụ thiết yếu trong khu công nghiệp.

Tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng thực chất. Việc rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tăng tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và xây dựng chính quyền đồng hành với doanh nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng để Nghệ An giữ vững sức hấp dẫn trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt.

Bước vào giai đoạn mới, với quyết tâm cao, cách làm mới và tư duy đột phá, Nghệ An hướng tới xây dựng nền công nghiệp hiện đại, xanh, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao, qua đó tạo động lực mới cho tăng trưởng và góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.