Trao đổi với cơ quan truyền thông, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho rằng, công tác xúc tiến thương mại đã và đang đóng góp tích cực vào kết quả xuất khẩu. Với những kế hoạch được xây dựng dài hạn và phù hợp, công tác xúc tiến thương mại sẽ tiếp tục đổi mới, góp phần thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Xúc tiến thương mại lấy doanh nghiệp, thị trường làm trung tâm
- Gần 375 tỷ USD là trị giá xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam trong 8 tháng năm 2026. Để đạt được con số này, Bộ Công Thương đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ đầu năm, bao gồm cả Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026-2030, ông nhận định ra sao về ý kiến này?
Ông Vũ Bá Phú:Tôi cho rằng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt gần 375 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026 là một kết quả rất đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 22,4%, cao hơn khá nhiều so với mục tiêu tăng 15-16% cả năm. Kết quả này tạo dư địa thuận lợi để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng cuối năm.
Kế hoạch xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030 không được xây dựng theo cách đơn giản là lập danh mục các hoạt động xúc tiến cho 5 năm tới, mà được xây dựng trên cơ sở bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn mới, định hướng phát triển xuất nhập khẩu, thực tiễn hoạt động xuất khẩu, bối cảnh và xu hướng của thị trường thế giới, kết quả triển khai xúc tiến thương mại giai đoạn trước và những yêu cầu mới đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, Kế hoạch phù hợp với định hướng phát triển xuất nhập khẩu trong giai đoạn mới, trong đó xuất khẩu tiếp tục là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nhưng yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng về quy mô mà còn phải nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia chuỗi giá trị và tính bền vững.
Kế hoạch đồng thời xuất phát từ thực tiễn hoạt động xuất khẩu và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. Trong những năm qua, xuất khẩu đã đạt được quy mô lớn hơn, cơ cấu hàng hóa có nhiều chuyển biến, nhiều doanh nghiệp đã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, năng lực của doanh nghiệp giữa các ngành hàng và thị trường còn khác nhau; khả năng xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn và tiếp cận trực tiếp các hệ thống phân phối quốc tế vẫn còn hạn chế ở một bộ phận doanh nghiệp. Đây là những vấn đề mà hoạt động xúc tiến thương mại tập trung hỗ trợ trong giai đoạn tới.
Một vấn đề quan trọng nữa là bối cảnh và xu hướng của thị trường thế giới đang thay đổi rất nhanh. Thị trường ngày càng phân mảnh, cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong khi các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, phát triển xanh, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và chuyển đổi số ngày càng trở thành những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường. Vì vậy, xúc tiến thương mại hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu thị trường, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tiếp cận đúng đối tác, đúng phân khúc.
Kế hoạch cũng kế thừa những kết quả và bài học từ quá trình triển khai xúc tiến thương mại giai đoạn trước. Thực tiễn cho thấy, hoạt động xúc tiến thương mại ở một số nơi còn dàn trải, có trường hợp tập trung nhiều vào số lượng hoạt động, trong khi việc theo dõi kết quả và tác động đối với doanh nghiệp chưa thực sự đồng đều. Sự phối hợp giữa Trung ương, địa phương, hiệp hội, ngành hàng và hệ thống xúc tiến thương mại ở nước ngoài cũng cần được tăng cường. Do đó, giai đoạn 2026 - 2030 cần chuyển mạnh hơn từ cách tiếp cận theo hoạt động sang theo mục tiêu, đối tượng và kết quả đầu ra, đồng thời nâng cao tính liên kết của toàn hệ thống.
Bên cạnh đó, công tác xúc tiến thương mại gắn chặt hơn với việc khai thác các FTA, cung cấp thông tin và kết nối thị trường theo từng ngành hàng, giúp doanh nghiệp hiểu rõ điều kiện tiếp cận, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn và nhu cầu của từng thị trường để tận dụng tốt hơn các ưu đãi đã được mở ra.
Từ những căn cứ đó, Kế hoạch xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030 được định hướng theo hướng lấy doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm, tập trung hơn vào các ngành hàng và thị trường có tiềm năng, tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong hệ thống xúc tiến thương mại và đổi mới phương thức tổ chức, ứng dụng dữ liệu và chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến. Đồng thời, việc đánh giá hiệu quả cũng sẽ từng bước chuyển từ việc đo số lượng hoạt động sang quan tâm nhiều hơn đến kết quả thực tế đối với doanh nghiệp và thị trường. Qua đó, xúc tiến thương mại không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội xuất khẩu trước mắt, mà hướng tới việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và phát triển bền vững tại thị trường quốc tế.
Xúc tiến đúng ngành hàng, đúng thị trường
- Một trong nhiệm vụ quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu là xác định rõ các nhóm ngành hàng ưu tiên; đa dạng hóa thị trường; xây dựng và hoàn thiện Hệ sinh thái xúc tiến thương mại quốc gia, thưa ông, Cục Xúc tiến thương mại và các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã và đang thực hiện nhiệm vụ này ra sao?
Ông Vũ Bá Phú:Đây là ba nội dung có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Trong thời gian qua, Cục Xúc tiến thương mại đã phối hợp với các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp để triển khai theo hướng xúc tiến đúng ngành hàng, đúng thị trường và đúng đối tượng doanh nghiệp.
Thứ nhấtvề xác định nhóm ngành hàng ưu tiên. Cục Xúc tiến thương mại đang tập trung nguồn lực vào những ngành hàng có lợi thế xuất khẩu, có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế và còn dư địa tăng trưởng. Bên cạnh những ngành hàng xuất khẩu chủ lực, chúng tôi cũng quan tâm đến các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường. Trên cơ sở đó, các chương trình xúc tiến được thiết kế ngày càng cụ thể hơn theo từng ngành hàng, thay vì tổ chức hoạt động xúc tiến theo cách tiếp cận dàn trải.
Thứ hailà đa dạng hóa thị trường. Đây là một nhiệm vụ chúng tôi đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Với các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN, mục tiêu là tiếp tục củng cố thị phần và đi sâu hơn vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao. Bên cạnh đó, tăng cường xúc tiến tại các thị trường còn nhiều tiềm năng như Trung Đông, Ấn Độ, Mỹ Latinh, châu Phi và các thị trường mà Việt Nam đã có Hiệp định thương mại tự do (FTA) nhưng doanh nghiệp chưa khai thác hết dư địa.
Thứ balà xây dựng Hệ sinh thái xúc tiến thương mại quốc gia. Chúng tôi xác định, không một cơ quan nào có thể làm xúc tiến thương mại một cách hiệu quả nếu hoạt động riêng lẻ. Hệ sinh thái này phải có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xúc tiến thương mại Trung ương và địa phương, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hệ thống thương vụ, các tổ chức hỗ trợ kinh doanh, các nền tảng số và các đối tác quốc tế. Trong đó, Cục Xúc tiến thương mại giữ vai trò điều phối và kết nối, các thương vụ là một trong những đầu mối quan trọng tại thị trường nước ngoài, còn các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp là những chủ thể trực tiếp triển khai và thụ hưởng.
Chúng tôi đang hướng tới việc kết nối các nguồn thông tin về thị trường, ngành hàng, đối tác, hoạt động xúc tiến và nhu cầu của doanh nghiệp trên nền tảng số, qua đó giúp doanh nghiệp không phải tự mình tìm kiếm từng thông tin, từng đối tác, từng chương trình, mà có thể tiếp cận một hệ thống hỗ trợ tương đối đồng bộ. Mục tiêu là hình thành một hệ thống xúc tiến thương mại liên thông từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra nước ngoài và từ thông tin thị trường đến kết nối giao dịch, qua đó sử dụng nguồn lực xúc tiến thương mại hiệu quả hơn và tạo ra kết quả thực chất hơn cho doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực của hệ thống xúc tiến thương mại và doanh nghiệp
- Để thúc đẩy xuất khẩu, việc nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh, kết hợp đưa công nghệ số vào các hoạt động cũng là yếu tố quan trọng cả trong ngắn hạn và dài hạn, ngành Công Thương, cụ thể là hệ thống làm công tác xúc tiến thương mại các địa phương đang thực hiện ra sao, thưa ông?
Ông Vũ Bá Phú:Đây là một nội dung mà Bộ Công Thương và Cục Xúc tiến thương mại xác định cần được quan tâm trong giai đoạn 2026 - 2030, bởi năng lực của hệ thống xúc tiến thương mại địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tiếp cận thị trường và phát triển xuất khẩu. Thời gian qua, Cục Xúc tiến thương mại đã tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm công tác xúc tiến thương mại tại các địa phương để chia sẻ thông tin thị trường, hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ, đồng thời tạo điều kiện để các trung tâm xúc tiến thương mại địa phương tham gia sâu hơn vào các chương trình, sự kiện xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế.
Một nội dung quan trọng là chúng tôi đang hướng tới việc đánh giá năng lực của các cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh một cách có hệ thống, thông qua Chỉ số đánh giá năng lực cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh - TPCI. Việc đánh giá này không nhằm tạo thêm thủ tục cho địa phương, mà trước hết để xác định được điểm mạnh, điểm còn hạn chế của từng đơn vị và từ đó có giải pháp hỗ trợ phù hợp. Mục tiêu đến năm 2030 là 100% cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh đạt từ 75/100 điểm trở lên.
Song song với nâng cao năng lực, chuyển đổi số đang làm thay đổi khá căn bản phương thức xúc tiến thương mại. Trước đây, doanh nghiệp thường tiếp cận thông tin thông qua các hội nghị, hội chợ, đoàn giao thương hoặc các kênh truyền thống. Hiện nay, các công cụ số cho phép chúng ta kết nối cung - cầu, cung cấp thông tin thị trường, giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm đối tác nhanh hơn, với phạm vi rộng hơn. Cục Xúc tiến thương mại đang từng bước xây dựng và hoàn thiện Hệ sinh thái xúc tiến thương mại quốc gia trên nền tảng số, kết nối giữa cơ quan quản lý, cơ quan xúc tiến thương mại Trung ương và địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp.
Khi hệ thống này được kết nối tốt, một doanh nghiệp ở một địa phương hoàn toàn có thể tiếp cận thông tin về một thị trường nước ngoài, một chương trình xúc tiến hoặc một đối tác tiềm năng mà không nhất thiết phải trực tiếp có mặt tại các trung tâm kinh tế lớn. Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, chuyển đổi số không có nghĩa là thay thế hoàn toàn xúc tiến thương mại trực tiếp. Với những giao dịch quốc tế có yêu cầu cao về tiêu chuẩn, chất lượng và xây dựng quan hệ đối tác, các hoạt động trực tiếp như hội chợ chuyên ngành, kết nối giao thương, khảo sát thị trường vẫn có vai trò rất quan trọng.
Vấn đề là chúng ta cần kết hợp hai phương thức này để tạo thành một quy trình xúc tiến hiệu quả hơn: Số hóa thông tin - tìm kiếm và sàng lọc đối tác - kết nối trực tuyến - sau đó thúc đẩy giao dịch và hợp tác trực tiếp. Vì vậy, mục tiêu của chúng tôi không chỉ là nâng cao điểm số hay trang bị thêm công nghệ cho các trung tâm xúc tiến thương mại địa phương, mà quan trọng hơn là hình thành một mạng lưới xúc tiến thương mại có năng lực, hoạt động chuyên nghiệp và kết nối thông suốt, trong đó Cục Xúc tiến thương mại đóng vai trò điều phối, chia sẻ thông tin và kết nối nguồn lực; còn các địa phương là lực lượng trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn.
Qua đó, chúng tôi kỳ vọng mỗi doanh nghiệp, dù ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hay ở một địa phương khác, đều có thể tiếp cận thông tin thị trường, đối tác và các cơ hội xúc tiến thương mại một cách nhanh chóng, thuận tiện và thiết thực hơn.
Thưa ông, sự hỗ trợ của ngành Công Thương, hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã rất rõ ràng, còn về phía doanh nghiệp, cần có biện pháp ứng phó với biến động thị trường và đầu tư như thế nào để gia tăng xuất khẩu?
Ông Vũ Bá Phú:Theo tôi, trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp phải xác định chất lượng sản phẩm và thương hiệu là năng lực cạnh tranh cốt lõi, chứ không chỉ là điều kiện để đáp ứng yêu cầu của một thị trường cụ thể.
Doanh nghiệp cần đầu tư nghiêm túc vào chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Không nên chờ đến khi có đơn hàng mới tìm cách đáp ứng yêu cầu của thị trường, mà cần chủ động xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, kiểm soát nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng ngay từ đầu. Đặc biệt, với những thị trường lớn, các yêu cầu về môi trường, phát thải, lao động, an toàn thực phẩm hay nguồn gốc nguyên liệu ngày càng trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Đầu tư vào sản phẩm và giá trị gia tăng. Nếu chỉ xuất khẩu nguyên liệu hoặc sản phẩm có mức độ chế biến thấp thì doanh nghiệp sẽ khó tạo ra sự khác biệt và dễ chịu sức ép về giá. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến chế biến sâu, thiết kế, bao bì, quy cách đóng gói, phát triển sản phẩm phù hợp với từng thị trường và từng nhóm người tiêu dùng.
Khai thác sâu thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới là một ưu tiên của công tác xúc tiến thương mại, giúp hàng Việt vươn xa ra thế giới.
Xây dựng thương hiệu một cách dài hạn. Tôi cho rằng, đây là điểm mà doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa để cải thiện. Thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một logo, mà trước hết phải được xây dựng từ chất lượng ổn định, giao hàng đúng cam kết, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và uy tín trong quan hệ với đối tác. Khi những yếu tố đó được duy trì nhất quán, thương hiệu mới có giá trị và giúp doanh nghiệp từng bước chuyển từ bán sản phẩm sang bán giá trị.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho năng lực tiếp cận thị trường. Cùng một sản phẩm nhưng cách tiếp cận thị trường Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Đông hay Đông Bắc Á có thể rất khác nhau. Doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ thị trường, xác định đúng phân khúc khách hàng, kênh phân phối và yêu cầu của từng thị trường, đồng thời tận dụng tốt các FTA mà Việt Nam đã ký kết.
Về phía Nhà nước, Cục Xúc tiến thương mại và các cơ quan trong hệ thống sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thông qua thông tin thị trường, đào tạo, tư vấn, kết nối đối tác, hội chợ chuyên ngành và các chương trình quảng bá thương hiệu. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, Nhà nước có thể mở đường, cung cấp thông tin và tạo cơ hội kết nối; còn doanh nghiệp phải là người trực tiếp đầu tư và quyết định khả năng đi được bao xa trên thị trường quốc tế. Và nếu doanh nghiệp làm tốt từ chất lượng, tiêu chuẩn, sản phẩm đến thương hiệu, thì chúng ta không chỉ tăng được kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là nâng được giá trị của hàng hóa Việt Nam và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại:Cổng Xúc tiến thương mại số quốc gia dự kiến ra mắt vào cuối năm 2026. Đây sẽ là điểm truy cập thống nhất để doanh nghiệp từng bước tiếp cận thông tin, dữ liệu và các dịch vụ của Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số; sau đó tiếp tục được hoàn thiện, mở rộng và kết nối với các nền tảng, cơ sở dữ liệu liên quan.