Thứ năm, 13/08/2026

Nhân lực trí tuệ nhân tạo: Nguồn lực chiến lược cho tăng trưởng

Phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhân lực trí tuệ nhân tạo: Nguồn lực chiến lược cho tăng trưởng — Đảng Cộng sản Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản trị và tổ chức lao động. Khả năng xử lý khối lượng dữ liệu lớn trong thời gian ngắn, tự động hóa nhiều quy trình, hỗ trợ dự báo, tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới đang khiến trí tuệ nhân tạo trở thành một trong những công nghệ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến sức cạnh tranh của mỗi nền kinh tế.

Đối với Việt Nam, vấn đề quan trọng lúc này không còn dừng ở câu hỏi có ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay không, mà là sử dụng công nghệ này như thế nào để thúc đẩy tăng trưởng? Câu trả lời phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nhân lực, bởi công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng cần con người nghiên cứu, vận hành, kiểm soát...

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt trí tuệ nhân tạo vào vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới. Trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ 2026 -2030, Nghị quyết yêu cầu: “Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế”.

Điểm đáng chú ý trong định hướng này là trí tuệ nhân tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt trong cùng một nhiệm vụ phát triển. Trí tuệ nhân tạo không được nhìn nhận như một công nghệ riêng lẻ, càng không phải một trào lưu ứng dụng ngắn hạn, mà là một thành tố của lực lượng sản xuất mới, phải được chuyển hóa thành năng lực thực tế của nền kinh tế.

Ở đây cũng xuất hiện một yêu cầu có tính nền tảng đối với phát triển nhân lực. Hạ tầng tính toán có thể được đầu tư bằng nguồn lực tài chính, nền tảng công nghệ có thể được tiếp nhận thông qua hợp tác, dữ liệu có thể từng bước xây dựng và chuẩn hóa, nhưng năng lực con người không thể hình thành trong thời gian ngắn. Đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản trị và người lao động cần một quá trình đào tạo, thực hành, tích lũy kinh nghiệm đủ dài để có thể đi từ sử dụng công nghệ đến khai thác hiệu quả, rồi tiến tới phát triển và làm chủ công nghệ.

Yêu cầu đó càng rõ hơn khi Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định mục tiêu đến năm 2030 từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số, trong đó có trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, công nghệ thông tin di động thế hệ mới và thông tin vệ tinh.

Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khoá XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh”.

Yêu cầu “chuyển hóa” đặt vấn đề phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở lại đúng với thước đo kinh tế. Số lượng công cụ được đưa vào sử dụng, số phần mềm được triển khai hay mức độ phổ biến của các nền tảng mới chưa thể phản ánh đầy đủ hiệu quả nếu năng suất lao động không tăng, chi phí sản xuất không giảm, chất lượng sản phẩm không được cải thiện và doanh nghiệp chưa tạo ra thêm giá trị.

Ở góc độ doanh nghiệp, kết quả cần được thể hiện bằng quy trình sản xuất hợp lý hơn, khả năng dự báo chính xác hơn, thời gian đưa sản phẩm ra thị trường được rút ngắn, chi phí vận hành được tiết giảm hoặc chất lượng phục vụ khách hàng được cải thiện. Đối với người lao động, công nghệ giúp nâng hiệu quả công việc, giải phóng sức lao động khỏi những khâu lặp lại để dành nhiều thời gian hơn cho những nhiệm vụ đòi hỏi kinh nghiệm, sáng tạo và khả năng phán đoán.

Nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia

Những định hướng lớn về phát triển nguồn nhân lực đang được cụ thể hóa bằng Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

Ngày 11/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg phê duyệt chương trình, đặt mục tiêu phát triển đội ngũ có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số và xã hội số.

Theo đó, nhân lực trí tuệ nhân tạo không còn được hiểu hẹp là đội ngũ lập trình viên, kỹ sư hay chuyên gia nghiên cứu, mà bao gồm cả lực lượng đông đảo trực tiếp sử dụng công nghệ trong từng ngành nghề.

Nhân lực trí tuệ nhân tạo không còn được hiểu hẹp là đội ngũ lập trình viên, kỹ sư hay chuyên gia nghiên cứu, mà bao gồm cả lực lượng đông đảo trực tiếp sử dụng công nghệ trong từng ngành nghề. Ảnh: VGP

Cách tiếp cận này phù hợp với quá trình trí tuệ nhân tạo đang thâm nhập vào công nghiệp, thương mại, logistics, tài chính, giáo dục, truyền thông, quản trị và nhiều lĩnh vực khác. Khi công nghệ trở thành một phần của công việc hằng ngày, kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo cũng sẽ dần trở thành một thành tố của năng lực nghề nghiệp. Sự thay đổi ấy đòi hỏi hệ thống đào tạo phải chuẩn bị đồng thời cho hai nhiệm vụ: nâng mặt bằng kỹ năng của số đông và phát triển một đội ngũ chuyên môn sâu có khả năng làm chủ công nghệ.

Mục tiêu đến năm 2030 cho thấy quy mô của quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực. Ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo phù hợp với lứa tuổi, gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức trong sử dụng AI và khả năng sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm. Toàn bộ người học trong các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI, đạo đức và an toàn dữ liệu.

Không gian đào tạo còn được mở rộng tới lực lượng lao động đang làm việc. Ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo cơ bản; 90% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng AI. Riêng lĩnh vực giáo dục và đào tạo đặt mục tiêu bao phủ 100%, trong đó tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu để có khả năng hướng dẫn và lan tỏa năng lực sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm.

Ở góc độ kinh tế, khoản đầu tư cho con người quyết định hiệu suất của khoản đầu tư cho công nghệ. Doanh nghiệp có thể chi nguồn lực lớn cho hạ tầng tính toán và phần mềm, song giá trị thu được sẽ không tương xứng nếu đội ngũ vận hành thiếu kỹ năng hoặc quy trình sản xuất chưa được tổ chức lại để khai thác công nghệ. Bởi vậy, phát triển nhân lực phải được tiến hành đồng thời với đầu tư hạ tầng, dữ liệu, nền tảng và đổi mới mô hình quản trị.

Nền tảng pháp lý vững chắc

Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đã tạo thêm một nền tảng pháp lý quan trọng cho quá trình phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này. Nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, trí tuệ nhân tạo phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người cho thấy cách tiếp cận của Việt Nam đặt sự phát triển công nghệ trong quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm, năng lực và khả năng kiểm soát của con người.

Điều 23 của Luật dành riêng quy định về phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo, xác định hướng phát triển toàn diện, liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, bảo đảm hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý công nghệ. Giáo dục phổ thông được tích hợp những nội dung cơ bản về AI, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ; giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được khuyến khích xây dựng chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và các chuyên ngành liên quan, đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế.

Việc thiết kế một chuỗi đào tạo liên thông giúp giải quyết bài toán nhân lực theo hướng dài hạn. Kiến thức cơ bản được hình thành từ giáo dục phổ thông, kỹ năng nghề nghiệp tiếp tục được phát triển trong giáo dục nghề nghiệp và đại học, còn năng lực nghiên cứu chuyên sâu được nâng cao tại các trường, viện và trung tâm đổi mới sáng tạo. Khi thị trường lao động biến đổi nhanh, quá trình này cũng phải được bổ sung bằng đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên và cơ chế học tập suốt đời.

Luật cũng thiết kế nguồn lực hỗ trợ thông qua Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia. Quỹ được ưu tiên cho phát triển hạ tầng, nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi, phát triển doanh nghiệp AI, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân lực trí tuệ nhân tạo.

Khi lực lượng lao động đủ khả năng sử dụng, đội ngũ kỹ thuật đủ sức triển khai và lớp chuyên gia có thể nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo mới thực sự đi sâu vào sản xuất, kinh doanh và quản trị, tạo ra những thay đổi có thể đo đếm bằng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo vì thế không đơn thuần nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực công nghệ mới, mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn, cho khả năng tự chủ công nghệ và cho những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam.

Mục tiêu Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035: Phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.