Khoảng trống quản lý trên hơn 3,7 triệu ha rừng
Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng trở nên quý giá, việc cả nước vẫn còn khoảng 3,7 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao, chưa được cho thuê là một thực tế đáng suy ngẫm. Diện tích này tương đương 20,51% tổng diện tích rừng toàn quốc và được xem là một trong những nguồn lực đất đai lớn nhất còn chưa được khai thác hiệu quả.
Theo TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, điều đáng lo ngại không chỉ nằm ở quy mô diện tích mà còn ở tình trạng pháp lý và cơ chế quản lý đối với nguồn tài nguyên này.
Theo quy định của Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp, phần lớn diện tích trên về bản chất là rừng chưa có chủ. Khi chưa xác định được chủ thể sử dụng, trách nhiệm quản lý được giao cho UBND cấp xã. Tuy nhiên, trên thực tế, cấp xã đang rơi vào tình thế vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp, vừa phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ tương tự chủ rừng dù không phải chủ rừng theo quy định pháp luật. Điều này tạo ra một nghịch lý: trách nhiệm lớn nhưng quyền hạn, nguồn lực và công cụ thực thi lại hạn chế. Trong khi đó, khối lượng công việc liên quan đến quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng diện tích rừng này ngày càng gia tăng.
Kết quả nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý” tại 6 xã thuộc khu vực nghiên cứu cho thấy thực trạng đáng quan ngại. Có tới 91,1% diện tích rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý đang bị người dân sử dụng trên thực tế hoặc bị lấn chiếm. Nói cách khác, chính quyền cơ sở được giao quản lý nhưng phần lớn diện tích lại nằm ngoài khả năng kiểm soát thực tế.
Đây không chỉ là vấn đề của riêng một vài địa phương. Nếu tình trạng tương tự tồn tại trên diện rộng, hơn 3 triệu ha đất lâm nghiệp đang trở thành vùng “quản lý danh nghĩa”, nơi quyền sử dụng, trách nhiệm quản lý và hiện trạng sử dụng đất chưa được xác lập rõ ràng.
Một dấu hiệu khác cho thấy những bất cập trong quản lý là sự chênh lệch giữa số liệu thống kê và hiện trạng thực tế. Tại 6 xã khảo sát, diện tích rừng theo kết quả kiểm kê gần nhất khoảng 14.900 ha, nhưng giải đoán ảnh viễn thám chỉ xác định còn gần 10.500 ha, chênh lệch hơn 4.400 ha, tương đương khoảng 30%.
Dù không thể kết luận toàn bộ phần diện tích chênh lệch là mất rừng, con số này phản ánh rõ những hạn chế trong công tác cập nhật dữ liệu, quản lý hồ sơ và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Nhiều diện tích đã được giao cho các chủ thể khác hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng nhưng chưa được cập nhật đầy đủ vào hệ thống quản lý. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhìn nhận lại toàn bộ cách thức quản lý đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao, chưa được cho thuê hiện nay.
Không chỉ là chuyện của ngành lâm nghiệp
“Nếu chỉ nhìn nhận hơn 3,7 triệu ha này dưới góc độ bảo vệ rừng, chúng ta có thể bỏ lỡ một nguồn lực phát triển rất lớn”,TS. Hà Công Tuấn nhấn mạnh. Theo ông, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới, quỹ đất lâm nghiệp khổng lồ này cần được xem là một phần của chiến lược phát triển quốc gia. Bởi một diện tích đất đai lớn như vậy nếu tiếp tục ở trong tình trạng quản lý lỏng lẻo sẽ không thể đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng, sinh kế hay phát triển kinh tế địa phương.
Không chỉ vậy, tình trạng chồng lấn giữa đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp đang trở thành rào cản ngày càng lớn đối với hoạt động xuất khẩu. Hiện nay, nhiều diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả hoặc đất sản xuất của người dân vẫn nằm trên phần đất được quy hoạch là đất lâm nghiệp. Khi các thị trường lớn như Liên minh châu Âu siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và chống phá rừng, những bất cập này có thể khiến nông sản và lâm sản Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro.
Doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu. Nếu dữ liệu đất đai không rõ ràng, hồ sơ quản lý thiếu đồng bộ hoặc tồn tại tình trạng chồng lấn kéo dài, việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, TS. Hà Công Tuấn cho rằng giao đất, giao rừng phải được xem là giải pháp ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, việc rà soát không nên chỉ thực hiện riêng đối với đất lâm nghiệp mà cần tiến hành đồng bộ với đất nông nghiệp trên cùng địa bàn để xử lý tận gốc tình trạng chồng lấn.
Một cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại phải bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”. Nghĩa là dữ liệu phải phản ánh đúng hiện trạng, đầy đủ thông tin, được chuẩn hóa và thường xuyên cập nhật. Nếu mỗi ngành tiếp tục quản lý một hệ thống dữ liệu riêng, sự thiếu thống nhất sẽ còn kéo dài. Kinh nghiệm từ Sơn La, Điện Biên cho thấy việc rà soát đồng thời đất lâm nghiệp và đất sản xuất hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương.
Cùng với đó, nhiều chính sách hiện hành cũng cần được rà soát để phù hợp với thực tiễn. Không ít quy định được xây dựng với mục tiêu tốt nhưng khi triển khai lại phát sinh vướng mắc. Từ cơ chế giao khoán rừng, quản lý tài sản công, cho thuê rừng đến các chương trình hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều địa phương phản ánh thủ tục còn phức tạp, khó thực hiện hoặc chưa phù hợp với điều kiện thực tế.
Một vấn đề đáng chú ý khác là cơ chế tài chính cho cấp xã trong quản lý rừng còn rất hạn chế. Trong khi được giao trách nhiệm quản lý diện tích lớn, nhiều địa phương lại thiếu nguồn lực để tổ chức tuần tra, kiểm tra, bảo vệ rừng hoặc cập nhật dữ liệu quản lý. Điều này khiến hiệu quả thực thi chính sách bị ảnh hưởng đáng kể.
Theo TS. Hà Công Tuấn, thay vì tiếp tục ban hành các quy định từ góc nhìn quản lý thuần túy, cần tăng cường tổng kết thực tiễn, mở rộng tham vấn và phản biện xã hội trước khi xây dựng chính sách mới. Chính sách chỉ thực sự hiệu quả khi xuất phát từ những vấn đề của thực tiễn và giải quyết được những khó khăn mà địa phương đang gặp phải.
Hơn 3,7 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa có chủ không chỉ là một con số thống kê. Đó là nguồn tài nguyên quý giá, là dư địa tăng trưởng và cũng là thước đo năng lực quản trị tài nguyên quốc gia. Nếu tiếp tục để diện tích này trong tình trạng quản lý thiếu rõ ràng, nguồn lực sẽ bị lãng phí, tranh chấp sẽ tiếp tục phát sinh và cơ hội phát triển sẽ bị bỏ lỡ. Ngược lại, nếu hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, đẩy nhanh giao đất, giao rừng và xác lập quyền sử dụng hợp pháp, đây có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xanh, nâng cao sinh kế người dân và tăng sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Đằng sau con số hơn 3,7 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao, chưa được cho thuê không chỉ là khoảng trống trong quản lý tài nguyên mà còn là câu chuyện về tăng trưởng, sinh kế, an ninh nông thôn và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Nếu không sớm hoàn thiện thể chế và xác lập chủ thể quản lý, một nguồn lực lớn của quốc gia sẽ tiếp tục bị bỏ ngỏ.