Vẫn còn khó khăn, vướng mắc
Không ít chi phí của doanh nghiệp phát sinh ngay từ quá trình thực hiện thủ tục, khi hồ sơ phải bổ sung nhiều lần, quy định chưa được hiểu thống nhất, thời gian xử lý kéo dài hoặc hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo. Có những dự án đã đáp ứng điều kiện nhưng vẫn phải chờ vì chưa xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm xử lý đến cùng. Những vướng mắc ấy có thể làm doanh nghiệp mất thời gian, tăng chi phí vận hành và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Mỗi khoảng thời gian chờ đợi đều đồng nghĩa với vốn bị giữ lại và cơ hội thị trường có thể trôi qua.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì phiên họp chuyên đề về công tác chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
Dự án chậm tiến độ khiến nguồn vốn đã đầu tư chưa thể phát huy hiệu quả, trong khi thiết bị, mặt bằng và nhân lực đều phải tiếp tục chờ để đưa vào vận hành. Càng kéo dài, doanh nghiệp càng đối mặt với nguy cơ lỡ hợp đồng, bỏ mất cơ hội thị trường và phát sinh thêm chi phí. Tổn thất vì vậy không chỉ là những khoản chi tăng thêm, mà còn là doanh thu, việc làm và năng lực sản xuất có thể đã được tạo ra nếu dự án được triển khai đúng kế hoạch.
Sức ép càng lớn với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa do khả năng dự phòng tài chính mỏng và sức chống chịu trước những biến động thường thấp hơn doanh nghiệp lớn. Điều này khiến thời gian chờ đợi trở thành một yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đơn hàng, kế hoạch kinh doanh, thậm chí khả năng duy trì hoạt động.
Do đó, cải thiện môi trường kinh doanh không thể chỉ xoay quanh thuế, tín dụng, đất đai hay những chính sách hỗ trợ trực tiếp. Doanh nghiệp cần thủ tục thông suốt, hướng dẫn minh bạch, pháp luật được áp dụng nhất quán và trách nhiệm xử lý công việc được xác định cụ thể.
Những định hướng và mục tiêu lớn
Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp; xóa bỏ rào cản hành chính, cơ chế “xin - cho”; chuyển mạnh nền hành chính từ quản lý là chủ yếu sang phục vụ, kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu khắc phục tình trạng thiếu nhất quán trong thực thi chính sách giữa Trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành cũng như giữa các địa phương; đẩy mạnh phân công, phân cấp, phân nhiệm và xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong giải quyết thủ tục hành chính.
Theo kết luận tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, chỉ trong khoảng một tháng, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp bộ giảm còn 27,4%; dự kiến tiết kiệm khoảng 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm; 362 thủ tục được phân cấp, 697 thủ tục được cắt giảm, 673 thủ tục được đơn giản hóa, 1.754 điều kiện kinh doanh được cắt giảm; thời gian thực hiện thủ tục giảm 53%, chi phí tuân thủ giảm 54,6%.
Những con số trên cho thấy quyết tâm cải cách rất lớn, nhưng đồng thời đặt ra một yêu cầu sâu hơn: cải cách thủ tục hành chính không nên dừng ở một chiến dịch hay ở việc thống kê số lượng thủ tục đã được cắt giảm, đơn giản hóa. Điều quan trọng là người dân và doanh nghiệp phải thực sự được hưởng lợi thông qua giảm thời gian, tiết kiệm chi phí, mở rộng cơ hội phát triển; tình trạng tùy nghi, xin - cho, nhũng nhiễu phải thực sự bị đẩy lùi.
Ban Chỉ đạo cũng yêu cầu kiểm soát chặt việc ban hành mới thủ tục, điều kiện đầu tư kinh doanh, kiên quyết không để thủ tục được cắt ở văn bản này nhưng lại phát sinh thêm giấy phép, điều kiện hoặc yêu cầu mới ở văn bản khác hay trong quá trình tổ chức thực hiện.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, cải cách chỉ có ý nghĩa khi tạo ra thay đổi thực sự trong quá trình giải quyết công việc, chứ không dừng ở những con số thống kê. Một thủ tục được bãi bỏ nhưng người dân vẫn phải bổ sung thêm giấy tờ khác thì gánh nặng hành chính về cơ bản vẫn còn nguyên. Số hóa quy trình cũng chưa thể coi là chuyển đổi trong quản trị nếu doanh nghiệp tiếp tục phải khai báo những dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có. Phân cấp thẩm quyền cũng vậy, nếu nhiệm vụ được chuyển xuống nhưng nơi tiếp nhận thiếu nhân lực, dữ liệu và năng lực chuyên môn, vướng mắc không mất đi mà chỉ chuyển từ cấp này sang cấp khác.
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, ban hành ngày 11/7/2026 nêu rõ: “Đối với thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và có thể khai thác, tái sử dụng thì quán triệt nguyên tắc không yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại. Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi phí tiết giảm cho người dân, doanh nghiệp, không chỉ bằng số lượng thủ tục được cung cấp trực tuyến”.
Đó chính là bước chuyển từ “có cải cách” sang “cải cách tạo kết quả”, cũng là nền tảng để nhìn đúng ý nghĩa của yêu cầu “đi đến cùng” trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương đã đặt yêu cầu: xây dựng đồng bộ thể chế kiến tạo và phát triển bền vững, tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông và giải phóng nhanh mọi nguồn lực; phân cấp, phân quyền phải tối đa, thực chất nhưng đồng thời gắn với bảo đảm nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát, kiểm tra và đôn đốc. Kết luận cũng yêu cầu việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển phải gắn với sản phẩm cụ thể và trách nhiệm người đứng đầu, đánh giá dựa trên kết quả thực hiện thay vì chỉ nhìn vào quá trình.
Đáng chú ý hơn, trong các nhiệm vụ triển khai Kết luận số 18-KL/TW, yêu cầu không chỉ dừng ở mục tiêu cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính và 50% chi phí tuân thủ so với năm 2024, mà còn đặt vấn đề nghiên cứu thiết lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối tiếp nhận, hỗ trợ và giải quyết dứt điểm các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển
Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định, Nhà nước kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển nhưng không can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trái với nguyên tắc thị trường; đồng thời bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển.
Trong khuôn khổ ấy, doanh nghiệp chịu trách nhiệm về lựa chọn đầu tư, chiến lược sản phẩm, chất lượng quản trị, khả năng đổi mới và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả phải chịu sức ép cạnh tranh; những dự án không có khả năng tạo ra giá trị không thể tồn tại chỉ nhờ sự hỗ trợ hành chính. Sự sàng lọc đó là cần thiết bởi thị trường chỉ có thể vận hành hiệu quả khi nguồn lực được dịch chuyển về những chủ thể có khả năng sử dụng tốt hơn.
Nhưng sự sàng lọc chỉ thực sự có ý nghĩa khi diễn ra trên một mặt bằng thể chế công bằng. Doanh nghiệp phải nỗ lực bằng năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng đổi mới, năng suất và sức cạnh tranh, chứ không phải bởi khả năng chịu đựng những thủ tục kéo dài hoặc mức độ thành thạo trong việc xoay xở trước các cách hiểu pháp luật thiếu thống nhất.
Cùng một quy định nhưng cách áp dụng khác nhau giữa các nơi sẽ khiến doanh nghiệp khó chủ động trong thực hiện. Dự án dù đã đáp ứng đầy đủ điều kiện vẫn có thể phải chờ chỉ vì chưa xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm xử lý đến cùng. Nhiều doanh nghiệp cũng dành đáng kể nhân lực cho việc theo dõi hồ sơ, giải trình, xin ý kiến về những vấn đề lẽ ra cần được làm rõ ngay từ đầu. Những vướng mắc đó làm tăng chi phí quản trị, kéo giảm hiệu quả đầu tư và cuối cùng tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Bởi vậy, một môi trường kinh doanh lành mạnh trước hết phải thể hiện ở khả năng loại bỏ những chi phí không cần thiết do chính quá trình quản lý tạo ra. Rút ngắn quy trình sẽ giúp doanh nghiệp giảm thời gian chờ đợi, đồng thời sớm đưa vốn, nhân lực và các nguồn lực khác vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Quy định được giải thích thống nhất cũng tạo sự ổn định trong thực thi, hạn chế rủi ro pháp lý và giúp doanh nghiệp có cơ sở rõ ràng hơn khi đưa ra quyết định đầu tư. Cùng với đó, việc xác định cụ thể đầu mối chịu trách nhiệm sẽ khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh, giúp doanh nghiệp biết nơi cần liên hệ và tạo căn cứ để kiểm tra, giám sát, quy trách nhiệm nếu công việc bị chậm trễ.
Nhìn rộng hơn, cải cách như vậy còn tác động trực tiếp tới cách phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Vốn chỉ có thể đi nhanh tới những dự án có hiệu quả khi thời gian chờ đợi được rút ngắn. Cơ hội thị trường chỉ có thể được tận dụng khi doanh nghiệp có khả năng dự báo tương đối rõ thời điểm một thủ tục sẽ hoàn thành; quyết định đầu tư chỉ có thể được đưa ra với mức độ chắc chắn cao hơn khi quy định được hiểu và áp dụng thống nhất. Ngược lại, một môi trường mà thời gian giải quyết khó dự báo, trách nhiệm thiếu rõ ràng và cách hiểu thay đổi giữa các cơ quan sẽ buộc doanh nghiệp phải dự phòng thêm chi phí, trì hoãn quyết định hoặc thậm chí từ bỏ cơ hội đầu tư.
Kết quả cuối cùng phải được nhìn nhận bằng những chuyển biến có thể kiểm chứng trong hoạt động kinh tế: thời gian giải quyết ngắn hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, cách hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất. Khi đó, những dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện có thể triển khai đúng tiến độ, vốn và tài sản đã đầu tư không phải tiếp tục nằm chờ. Doanh nghiệp có thể dành nhiều nguồn lực hơn cho sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.
Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Khơi thông dòng vốn và môi trường đầu tư cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu vốn; hỗ trợ tiếp cận thị trường, chuyển đổi số, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và tham gia chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI phải gắn trách nhiệm phát triển nhà cung ứng trong nước”.