Giá lúa gạo hôm nay, ghi nhận trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 445-449 USD/tấn, trong khi đó, gạo 100% tấm dao động từ 390-394 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 361-365 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 290-294 USD/tấn.
Trong tuần qua, thị trường lúa gạo toàn cầu tiếp tục chịu tác động từ biến động giá năng lượng và chi phí logistics duy trì ở mức cao, gây áp lực lên cán cân cung - cầu và khiến hoạt động giao dịch tiếp tục diễn ra thận trọng.
Bên cạnh đó, các yếu tố địa chính trị vẫn ảnh hưởng đáng kể đến ngành lúa gạo thế giới. Mặc dù giá năng lượng đã giảm so với giai đoạn trước, chi phí vận chuyển chưa hạ nhiệt, làm gia tăng chi phí thương mại.
Tại châu Á, trong tuần xuất khẩu gạo khá sôi động, giá gạo biến động trái chiều so với tuần trước. Tuy nhiên, giá vẫn biến động, chưa hình thành xu hướng ổn định.
Tại thị trường trong nước, giá lúa gạo hôm nay 26/7/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vắng.
Trong đó với mặt hàng gạo, trong tuần giao dịch mua bán chậm, giá các loại gạo xuất khẩu trong nước tăng mạnh. Cụ thể, giá gạo xuất khẩu các loại gạo trong nước tăng từ 5 đến 35 USD/tấn (gạo Jasmine xuất khẩu tăng 35 USD/tấn ở mức 544-548 USD/tấn so với tuần trước); gạo xuất khẩu thế giới tăng giảm trái chiều.
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán vắng, giá vững.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.900 - 8.300 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 2 2.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, trong tuần giá một số loại lúa tươi giảm 100 đồng/kg, giao dịch mua bán lúa mới khá hơn, do nguồn lúa Hè Thu đã bán ở nhiều khu vực. Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán vắng, giá vững.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.200 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.850 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg, so với cuối tuần.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 546-550 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500-510 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 353-357 USD/tấn.
Bảng giá lúa gạo hôm nay ngày 26/7/2026
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, tính đến 15/7, tổng sản lượng gạo xuất khẩu đạt 5,3 triệu tấn, thu về 2,52 tỷ USD, tăng 6,5% về khối lượng so với cùng kỳ năm trước.Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng đạt khoảng 460 USD/tấn, giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm 2025. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc đứng thứ hai với 19,4%, tiếp theo là Ghana với 8,5%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm tăng 87%, trong khi Philippines giảm 3,8% và Ghana giảm 24,7%.Trong nhóm 15 thị trường lớn, Iraq tăng trưởng cao nhất, gấp 132,4 lần cùng kỳ, còn Campuchia giảm mạnh nhất, giảm 68,1%, cho thấy thị trường xuất khẩu đang dần được đa dạng hóa.