Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất - thương mại Phước Thành IV (tỉnh Vĩnh Long) xung quanh vấn đề này.
Doanh nghiệp khó mua lúa vì thiếu vốn
- Thưa ông, giá lúa, gạo thời gian qua giảm khá mạnh. Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính?
Ông Nguyễn Văn Thành:Giá lúa, gạo giảm do nhiều nguyên nhân.Thứ nhất,vụ Hè Thu thời gian qua đang vào cao điểm thu hoạch nhưng hiện đã sắp kết thúc.Thứ hai,đối với gạo Hè Thu, một số khách hàng còn e ngại về chất lượng nên có tâm lý thăm dò, chờ đợi trước khi đàm phán và ký hợp đồng.Thứ ba,một số quốc gia đã có động thái điều chỉnh chính sách nhập khẩu, trong khi nhu cầu từ Philippines cũng đang chậm lại.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp hiện gặp khó khăn về tài chính. Việc giải ngân vốn từ ngân hàng đang chậm, trong khi lượng hàng tồn kho của nhiều doanh nghiệp còn khá lớn. Do đó, doanh nghiệp rất thận trọng trong việc tiếp tục mua vào. Một vấn đề nữa là lãi suất vẫn ở mức cao. Trong khi đó, biên lợi nhuận của ngành gạo không lớn nên chỉ cần lãi suất tăng thêm một chút là doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn.
- Với diễn biến hiện nay, ông có cho rằng giá lúa còn giảm thêm?
Ông Nguyễn Văn Thành:Tôi cho rằng, giá lúa đã xuống đáy và khả năng từ cuối tuần này hoặc tuần sau có thể nhích tăng trở lại, bởi vụ Hè Thu cũng đã gần kết thúc, lượng lúa hàng hóa trên thị trường sẽ giảm dần. Tuy nhiên, giá có thể tăng cao đến đâu vẫn phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường thế giới. Nếu thị trường Philippines quay lại mua hàng với khối lượng lớn, giá sẽ tăng. Bên cạnh đó, một số thị trường như Trung Quốc và các nước châu Phi cũng có khả năng tăng nhập khẩu.
Trong bối cảnh dự báo El Nino và những diễn biến bất thường của thời tiết, nhu cầu dự trữ lương thực của một số quốc gia có thể tăng lên. Khi lượng tồn kho giảm, các nước sẽ phải quay lại thị trường để mua vào. Đây là yếu tố có thể hỗ trợ giá lúa, gạo trong thời gian tới.
Cần giải ngân nhanh để doanh nghiệp thu mua lúa
- Ông vừa đề cập đến khó khăn về lãi suất và vốn. Theo ông, cần có chính sách gì để hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân trong bối cảnh hiện nay?
Ông Nguyễn Văn Thành:Trước đây, vào những thời điểm cao điểm thu mua lúa, Chính phủ từng có những chính sách hỗ trợ lãi suất trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn 3 hoặc 6 tháng, để doanh nghiệp có nguồn vốn mua tạm trữ. Theo tôi, trong bối cảnh hiện nay, cần ưu tiên giải ngân cho các doanh nghiệp lớn, có năng lực thu mua và xuất khẩu gạo, qua đó bảo đảm đầu ra cho nông dân.
Quan trọng nhất là nguồn vốn phải được giải ngân nhanh. Nếu doanh nghiệp làm thủ tục vay vốn nhưng phải chờ 3-5 ngày mới được giải ngân thì cơ hội mua hàng hoặc thực hiện hợp đồng có thể đã chuyển sang doanh nghiệp khác. Ngoài ra, một số doanh nghiệp hiện không có đủ tài sản bảo đảm nên khả năng tiếp cận vốn cũng bị hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp không thể mạnh dạn mua và dự trữ lúa khi giá đang ở mức thấp.
- Philippines hiện là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Một số ý kiến cho rằng, Việt Nam không nên phụ thuộc quá nhiều vào thị trường này. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Thành:Tôi cho rằng, chưa thể nói Việt Nam phụ thuộc vào thị trường Philippines. Điều rõ ràng là người tiêu dùng Philippines hiện rất ưa chuộng gạo Việt Nam. Cách đây hơn 10 năm, Philippines nhập khẩu gạo từ nhiều nguồn khác nhau như Thái Lan, Campuchia, Myanmar và Ấn Độ. Tuy nhiên, thị hiếu của người tiêu dùng đã thay đổi.
Hiện nay, một số giống lúa của Việt Nam như Đài Thơm 8, OM 5451… phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng Philippines. Vì vậy, Việt Nam tập trung sản xuất những giống lúa này để đáp ứng thị trường. Tất nhiên, nếu có những năm nguồn cung vượt cầu thì giá có thể bị ép xuống. Điều này không hẳn do người nông dân mà một phần do sản xuất chưa gắn chặt với định hướng thị trường. Nông dân chủ yếu biết sản xuất nhưng khó tự xác định nên trồng giống gì, sản lượng bao nhiêu để phù hợp với nhu cầu.
- Ông đánh giá thế nào về triển vọng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2026, khi thị trường đã bước sang những tháng cuối năm?
Ông Nguyễn Văn Thành:Về sản lượng, tôi cho rằng, xuất khẩu gạo năm nay vẫn có thể đạt mục tiêu. Tuy nhiên, về giá trị thì sẽ khó tăng trưởng mạnh, bởi giá gạo hồi đầu năm đã ở mức khá thấp và trong vụ Hè Thu cũng tiếp tục giảm trong một thời gian. Từ nay đến cuối năm, nếu có thêm các đơn hàng mới, đặc biệt khi giá xuất khẩu được cải thiện, tình hình có thể khả quan hơn. Tôi cho rằng, giá trị xuất khẩu gạo năm 2026 có thể giảm nhẹ nhưng không thấp hơn quá nhiều so với năm 2025.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang đa dạng hóa các dòng sản phẩm như gạo nếp, gạo Japonica, gạo T25… và mở rộng sang một số thị trường mới. Những phân khúc này có thể góp phần bù đắp phần sụt giảm của nhóm gạo trắng truyền thống. Vì vậy, tôi cho rằng, điều quan trọng trong thời gian tới là doanh nghiệp cần chủ động hơn về thị trường, còn nông dân cần được định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu thực tế. Khi cung - cầu được cân đối và doanh nghiệp có đủ vốn thu mua, giá lúa gạo sẽ có điều kiện phục hồi.
- Xin cảm ơn ông!
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 8/2026, Việt Nam ước xuất khẩu 459,5 nghìn tấn gạo, trị giá 240,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân 8 tháng ước đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 43,2% thị phần. Trung Quốc và Ghana đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 18,4% và 11%.