PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.
Xuất khẩu tăng gần 20%, vượt xa giả định ban đầu của chiến lược
- Thưa ông, nhìn từ kết quả 6 tháng đầu năm 2026, ông đánh giá thế nào về dư địa tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Xuất khẩu đang là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế. Theo số liệu của Cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 550 tỷ USD, tăng hơn 27%.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân).
Điều đáng chú ý, mức tăng này đã vượt rất xa giả định khi xây dựng Quyết định 493/QĐ-TTg về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030. Khi đó, kịch bản tăng trưởng xuất khẩu chỉ khoảng 7-8%/năm, còn thực tế hiện nay đang tiến sát ngưỡng 20%. Điều đó cho thấy, nhiều chỉ tiêu của chiến lược đã được hoàn thành sớm hơn dự kiến. Nếu tiếp tục giữ nguyên các mục tiêu cũ thì chiến lược sẽ không còn phản ánh đúng bối cảnh phát triển mới của nền kinh tế.
- Theo ông, việc điều chỉnh chiến lược nên tập trung vào những nội dung nào?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Theo tôi, cần tập trung vào 5 trọng tâm: Nâng mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu theo kịch bản tăng trưởng GDP hai con số; chuyển mạnh cơ cấu xuất khẩu sang công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn; gắn xuất khẩu với nội địa hóa và năng lực tự chủ của nền kinh tế; đưa xuất khẩu xanh, xuất khẩu số thành trụ cột mới; và tái cấu trúc chiến lược thị trường theo hướng đa dạng, đi sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đây không phải là điều chỉnh nhỏ về kỹ thuật mà là sự thay đổi mang tính định hướng dài hạn, bởi quy mô xuất khẩu đã tăng mạnh, cơ cấu hàng hóa thay đổi và các yêu cầu về xanh, số, truy xuất nguồn gốc đang trở thành điều kiện bắt buộc của thương mại quốc tế.
6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: Nguyễn Nam
- Ông có thể nói rõ hơn về sự chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Trước đây, chúng ta thường nhắc nhiều đến nông, lâm, thủy sản và gia công. Nhưng hiện nay hàng công nghệ cao đã chiếm khoảng 36,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam đang đứng đầu thế giới về xuất khẩu điện thoại và ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất điện tử, bán dẫn, thiết bị số. Vì vậy, chiến lược mới phải phản ánh đúng sự chuyển dịch này và định hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm có hàm lượng nội địa cao hơn.
- Nghị quyết 10-NQ/TW sẽ tạo thêm năng lực sản xuất và lực kéo xuất khẩu
- Ông đánh giá thế nào về tác động từ Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với xuất khẩu trong thời gian tới?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Theo tôi, cần nhìn Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ là chính sách thu hút đầu tư nước ngoài mà còn là công cụ thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Thực tế cho thấy, cứ khoảng 10 tỷ USD FDI vào Việt Nam có thể tạo ra khoảng 100-150 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Nếu vốn FDI thực hiện đạt khoảng 35 tỷ USD mỗi năm thì quy mô xuất khẩu do khu vực FDI tạo ra sẽ tiếp tục tăng rất mạnh. Hiện nay khu vực FDI chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Điều này cho thấy, thu hút FDI chất lượng cao sẽ trực tiếp mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
- Như vậy, chất lượng thu hút FDI sẽ quyết định khả năng mở rộng xuất khẩu, thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Đúng vậy. Chất lượng FDI cần được hiểu ở ba cấp độ: thu hút các tập đoàn lớn trong danh sách Fortune 500; thu hút doanh nghiệp sở hữu công nghệ lõi và nâng tỷ lệ nội địa hóa thông qua liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Theo tôi, Việt Nam cần hình thành khoảng 1.000 doanh nghiệp có khả năng trở thành nhà cung cấp cấp 1 cho các tập đoàn đa quốc gia. Khi đó, FDI mới thực sự tạo ra hiệu ứng lan tỏa và nâng năng lực nội sinh của nền kinh tế.
- Điều này liên quan thế nào tới việc điều chỉnh Chiến lược xuất nhập khẩu, thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Hai việc này phải đi cùng nhau. Một bên mở rộng thị trường và quy mô xuất khẩu, một bên nâng chất lượng dòng vốn FDI để tạo ra năng lực sản xuất mới. Nói cách khác, điều chỉnh chiến lược xuất nhập khẩu và triển khai Nghị quyết 10 là hai mặt của một quá trình: vừa tăng xuất khẩu, vừa tăng giá trị gia tăng trong nước.
Hướng đến kim ngạch xuất nhập khẩu trên 1.000 tỷ USD
- Ông dự báo thế nào về triển vọng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Tôi đánh giá triển vọng sẽ tích cực hơn 6 tháng đầu năm nhờ ba động lực chính.Thứ nhất, đầu tư công mới giải ngân khoảng hơn 35%, trong khi cuối năm thường có thể đạt tới khoảng 95% kế hoạch. Điều này sẽ tạo thêm động lực rất lớn cho sản xuất và xuất khẩu.
Thứ hai, đầu tư tư nhân đang chờ đợi môi trường chính sách ổn định hơn. Khi các chính sách được triển khai rõ ràng và đồng bộ, tôi cho rằng sẽ xuất hiện một làn sóng đầu tư mới trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.Thứ ba, xuất nhập khẩu tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng. Theo dự báo của tôi, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm có thể đạt khoảng 1.050-1.100 tỷ USD.
- Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để xuất khẩu tăng bền vững trong giai đoạn tới?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Ngoài vốn FDI, yếu tố quyết định vẫn là năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện cả nước có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, chưa kể hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nếu đến năm 2030 nâng số doanh nghiệp lên khoảng 2 triệu, khu vực trong nước hoàn toàn có khả năng tham gia sâu hơn vào hoạt động xuất khẩu.
Vấn đề cốt lõi là doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, làm chủ công nghệ và tham gia mạnh hơn vào công nghiệp hỗ trợ. Không chỉ sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, doanh nghiệp Việt Nam cần sản xuất được linh kiện, chi tiết để tham gia chuỗi giá trị của các ngành công nghệ cao.
Khi nâng được hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa, xuất khẩu của Việt Nam mới thực sự tăng trưởng bền vững, có giá trị gia tăng cao hơn và góp phần nâng vị thế của nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Xin cảm ơn ông!
Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đã vượt xa kịch bản đặt ra trong Chiến lược xuất nhập khẩu đến năm 2030. Trong bối cảnh mục tiêu GDP hướng tới hai con số và Nghị quyết 10-NQ/TW đẩy mạnh thu hút FDI chất lượng cao, việc cập nhật chiến lược xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết để tạo thêm năng lực sản xuất và mở rộng quy mô xuất khẩu trong giai đoạn tới.