Thứ sáu, 04/09/2026

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 3: Vị Bộ trưởng đầu tiên tự nguyện xuống… Thứ trưởng

Hơn 4 tháng đứng đầu Bộ Quốc dân Kinh tế, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà cùng cộng sự vừa dựng bộ máy vừa xử lý lương thực, tiền tệ, lưu thông hàng hóa. Đầu năm 1946, ông tự nhường ghế Bộ trưởng xuống làm Thứ trưởng.

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 3: Vị Bộ trưởng đầu tiên tự nguyện xuống… Thứ trưởng

Bộ trưởng tự nhường ghế

Cuối năm 1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung chuẩn bị gấp rút cho cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội và thành lập một Chính phủ chính thức, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà đã đưa ra lựa chọn đặc biệt.

Ngày 26/12/1945, trong cuộc trả lời phỏng vấn các báo về vấn đề đoàn kết và việc thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ Nguyễn Mạnh Hà, khi đó là Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế (người không đảng phái),"đã tự nhường xuống làm Thứ trưởng để tỏ lòng thành thực đoàn kết của Chính phủ hiện thời".

Ngày 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra mắt, ông Nguyễn Tường Long giữ chức Bộ trưởng Kinh tế còn ông Nguyễn Mạnh Hà xuống làm Thứ trưởng.

5 ngày sau, ngày 6/1/946, ông Nguyễn Mạnh Hà trúng cử đại biểu Quốc hội tại tỉnh Hưng Yên.

Ông giữ chức Bộ trưởng hơn 4 tháng, kể từ ngày 28/8 đến hết năm 1945, đúng vào những tháng đầu đầy thử thách của Nhà nước mới. Khoảng thời gian không dài nhưng nhiều nền móng đầu tiên của Bộ đã được đặt xuống: những văn bản về lương thực và lưu thông hàng hóa, Nghị định số 8-BKT/VP tổ chức bộ máy, Phòng Kinh tế tạp san cùng những quyết định mở rộng quyền kinh doanh và tháo bỏ một số ràng buộc của chế độ cũ.

Sau Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà, giai đoạn 1945-1951, vị trí người đứng đầu Bộ thay đổi khá nhanh cùng những biến động liên tiếp của thời cuộc. Và trước khi rời ghế Bộ trưởng, Nguyễn Mạnh Hà và những cộng sự của mình đã phải đi qua một trong những thử thách gai góc nhất của hoạt động kinh tế lúc bấy giờ...

Giới Công Thương giữa biến động tiền tệ

Mọi chuyện làm ăn lúc bấy giờ đều vấp một trở ngại chung đó là đồng tiền. Tiền tệ thuộc phần việc của Bộ Tài chính do Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đứng đầu, song đồng tiền hiện diện trong mọi cuộc mua bán, chi phối lưu thông hàng hóa và tác động trực tiếp tới giới Công Thương.

3 câu chuyện thời điểm ấy liên quan trực tiếp tới ngành cần được nhắc lại.

Thứ nhất,một nhà tư sản được giao phụ trách Quỹ Trung ương của Quỹ Độc lập.

Ngày 4/9/1945, 2 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 4/SL thành lập Quỹ Độc lập để tiếp nhận tiền và hiện vật do đồng bào tự nguyện đóng góp. Ông Đỗ Đình Thiện, một nhà tư sản yêu nước được giao phụ trách Quỹ Trung ương tại Hà Nội.

Chính quyền mới thành lập chưa đầy 1 tuần đã giao một phần công việc liên quan trực tiếp đến tiền bạc của quốc gia cho một người thuộc giới Công Thương. Quan hệ giữa chính quyền cách mạng và giới doanh nhân thời điểm đó thể hiện rõ Chính phủ giao trách nhiệm, người làm kinh doanh nhận việc.

Thứ hai,biến động tiền tệ "đánh" thẳng vào người buôn bán. Ngày 17/11/1945, nhà chức trách Pháp tuyên bố các tờ bạc 500 đồng Đông Dương phát hành trong khoảng ngày 9/3 đến 23/9/1945 không còn giá trị. Đối với loại 500 đồng phát hành trước ngày 9/3, mức thu đổi chỉ bằng 70% mệnh giá và thời hạn đổi là 7 ngày.

"Đòn" tiền tệ lập tức tác động tới những người giữ nhiều tiền mặt để xoay vòng hàng hóa, những người buôn bán nằm trong nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Báo Cứu Quốc ngày 15/4/1946 gọi đây là một đòn nặng giáng vào dân chúng Việt Nam cùng Hoa kiều và Pháp kiều. Chiều 26/11/1945, một cuộc biểu tình diễn ra trước Ngân hàng Đông Dương tại Hà Nội. Cuộc biểu tình kết thúc bằng tiếng súng.

Báo Quyết Chiến số ra ngày 27/11/1945 thuật lại:"Chiều hôm qua ở Hà Nội, một nhóm nhà buôn Việt Nam và Hoa kiều đến nhà Đông Dương ngân hàng đòi đổi giấy bạc 500 đồng. Bọn Pháp từ trong nhà ngân hàng bắn một loạt súng ra. Quân đội Trung Hoa liền đến can thiệp. Một vị võ quan phất cờ Trung Hoa ra lệnh thôi bắn. Nhưng bọn Pháp vẫn bắn. Kết quả ba người chết và 18 người bị thương, trong số ấy có 5 người Trung Hoa, gồm 3 lính và 2 Hoa kiều".

2 ngày sau, tờ báo này đưa tin tiếp: Trong số 13 người Việt Nam bị thương vì đạn Pháp trước Ngân hàng Đông Dương ở Hà Nội, 4 người đã từ trần đêm 27/11, 1 Hoa kiều bị thương cũng đã qua đời. Ngân hàng Đông Dương đóng cửa từ ngày 27/11.

Hãy để ý chữ "nhà buôn" trong bản tin. Trong số những người có mặt trước cửa Ngân hàng Đông Dương có những người sống bằng nghề buôn bán, phải giữ tiền mặt để mua hàng và xoay vòng vốn. Vì vậy, biến động của đồng bạc 500 đồng tác động trực tiếp tới vốn liếng và kế sinh nhai của họ. Chuyện tiền tệ vốn nằm trên bàn của nhà quản lý đã tràn xuống phố, đã có người chết và bị thương.

Phản ứng sau vụ nổ súng lan nhanh, từ ngày 27/11, dân chúng Hà Nội thực hiện bất hợp tác với Pháp kiều. Hải Phòng có hoạt động tẩy chay. Ngày 29/11, người Việt Nam và Hoa kiều ở Hòn Gai xuống đường phản đối. Thái Bình và Thái Nguyên cũng có phản ứng.

Cũng ngày 29/11/1945, 3 ngày sau vụ nổ súng, Việt Nam Công Thương Ngân hàng họp tại Tòa Thị chính để bàn chuyện kiến thiết tài chính và kinh tế nước nhà, đề nghị Chính phủ sớm phát hành một loại giấy bạc để người dân có thể sử dụng trong giao dịch.

Báo Quyết Chiến thuật lại:"Hôm 29 tháng 11, Việt Nam Công thương Ngân hàng đã hội họp ở toà Thị chính để bàn về cuộc kiến thiết nền tài chính và kinh tế nước nhà. Về tài chánh, để giải quyết vấn đề tiền tệ, Việt Nam Công thương Ngân hàng đã đề nghị lên Chính phủ việc phát hành cấp tốc một thứ giấy bạc để quốc dân có thể tiêu dùng với nhau, thay giấy bạc Đông Dương ngân hàng".

Bản tin còn cho biết ngân hàng chỉ có thể hoạt động sau khi đồng bào đăng ký mua đủ 30 vạn cổ phần và Ủy ban sáng lập đang kêu gọi góp vốn.

Trước đó, tháng 10/1945, chương trình kinh tế của giới Công Thương đã đề cập việc lập ngân hàng quốc gia và phát hành đồng bạc riêng. Ngày 29/11, Việt Nam Công Thương Ngân hàng tiếp tục đề nghị Chính phủ sớm phát hành giấy bạc để phục vụ giao dịch trong nước. Đến ngày 31/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 18B cho phép phát hành đồng bạc giấy Việt Nam tại miền Nam Trung Bộ, tính từ vĩ tuyến 16 trở về phía Nam. Giới Công Thương đã tham gia khá sớm vào câu chuyện tiền tệ của đất nước bằng kiến nghị và hoạt động huy động vốn.

Rối loạn tiền tệ kéo theo khó khăn trong lưu thông hàng hóa, trong danh mục 35 nghị định của Bộ được thống kê qua Việt Nam Dân Quốc Công Báo trong năm đầu hoạt động, nhiều văn bản liên quan đến giá cả, vật tư và hàng hóa thiết yếu. Giá cả, nguồn hàng và lưu thông trở thành những công việc thường xuyên của cơ quan quản lý kinh tế trong những tháng đầu lập quốc.

Thứ ba,hoạt động xuất nhập khẩu bắt đầu được nới lỏng. Ngày 9/11/1945, Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 48-TC bãi bỏ sắc lệnh ngày 13/8/1941 vốn cấm mọi hoạt động xuất nhập cảng ở Đông Dương. Nghị định vẫn duy trì lệnh cấm nhập đối với một số mặt hàng và tạm cấm xuất gạo, ngô, đỗ, bông, đay, vải, vàng, bạc cùng muối.

Nghị định số 48-TC chưa mở hoàn toàn hoạt động ngoại thương. Văn bản bãi bỏ một lệnh cấm xuất nhập khẩu rất rộng của thời chiến nhưng vẫn giữ kiểm soát đối với nhiều mặt hàng thiết yếu.

Đặt quyết định giữa cơn biến động tiền tệ mới thấy thế khó của người buôn bán lúc bấy giờ. Đường giao thương bắt đầu được mở lại nhưng đồng tiền dùng để thanh toán vẫn chao đảo; hàng hóa có thêm đường lưu thông còn phương tiện để quay vòng vốn và làm ăn vẫn chưa ổn định.

Bản báo cáo đầu tiên trình Chính phủ

Theo hồi ức của học giả Nguyễn Đình Đầu, bộ phận làm việc trực tiếp bên cạnh Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế trong những ngày đầu có 3 người giúp việc: 1 Đổng lý Văn phòng, 1 Đổng lý Sự vụ và ông làm Bí thư. Tính cả Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà, nhóm làm việc trực tiếp có 4 người.

Về cơ duyên giữa học giả Nguyễn Đình Đầu và Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà được bắt đầu từ nhóm thanh niên lao động Công giáo ở Hải Phòng. Ông Nguyễn Mạnh Hà cùng vợ tổ chức nhóm này từ năm 1936, còn ông Nguyễn Đình Đầu tham gia năm 1939.

Nhà báo Nguyễn Văn Minh - Tổng Biên tập Báo Công Thương (thời điểm đó là Phó Tổng Biên tập phụ trách Báo) và học giả Nguyễn Đình Đầu, tháng 10/2023.

Theo lời kể của học giả Nguyễn Đình Đầu, một hôm ông Nguyễn Mạnh Hà gọi ông đến rồi đóng cửa lại. Thấy lạ, ông hỏi lý do thì ông Nguyễn Mạnh Hà mới cho biết bản thân sắp nhận chức Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ngỏ lời mời ông làm Bí thư. Theo hồi ức của ông, thời điểm đó còn ít người biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.

Bản báo cáo đầu tiên của Bộ trình Chính phủ được giao cho Nguyễn Đình Đầu, người nhỏ tuổi nhất và tự nhận mình ít học nhất trong nhóm. Ông dành nhiều công sức cho bản báo cáo, đặc biệt là vấn đề lương thực ở miền Bắc sau nạn đói làm 2 triệu người chết. Chính từ công việc đó, sau này khi cần cử người vào Nam lo chuyển gạo ra Bắc, ông tiếp tục được giao nhiệm vụ.

Trong một dịp khác, ông cũng kể lại câu chuyện được Bác Hồ trực tiếp giao việc đi mua gạo. Trong giấy tờ chuẩn bị cho chuyến đi, ông viết có từ "đong gạo", sau khi xem lại, Bác sửa thành "mua gạo".

Nhiều năm sau, ông vẫn nhớ câu chuyện ấy như bài học về sự chính xác của ngôn từ:"Cho tới bây giờ tôi viết nhiều sách, nhiều báo nhưng tôi luôn tâm niệm viết chữ gì thì phải cho đúng nghĩa của nó. Chỉ một chữ đong gạo mà khiến tôi nhớ mãi và câu chuyện như bài học ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động nghiên cứu của tôi sau này".

"Đong" là cách nói dễ gợi đến việc cấp phát. "Mua" là giao dịch rõ ràng, có người bán, người mua và có thanh toán. Trong buổi đầu của một Nhà nước vừa giành độc lập, giữa tình thế chính trị và đối ngoại hết sức phức tạp, từng câu chữ trong đối ngoại và hành chính đều cần chính xác để tránh những cách hiểu không cần thiết.

Nha Thương vụ lên mặt báo và con số 0,3% "đau đớn"

Ngày 17/1/1946, báo Cứu Quốc đăng bài"Thương gia Việt Nam", cuối bài ký Bộ Quốc dân Kinh tế, Nha Thương vụ.

Bài viết mở đầu bằng lời đề nghị bạn đọc "hãy nhận xét kỹ mấy con số sau này", rồi đưa ra bảng thống kê về các công ty vô danh ở Đông Dương tính đến năm 1944.

Xét về số lượng công ty, người Pháp chiếm 93,9%, các nhóm ngoại quốc khác chiếm 2,7% và người Việt Nam chiếm 3,4%. Khoảng cách còn lớn hơn nếu nhìn vào vốn, phía Pháp nắm 87,6%, các nhóm ngoại quốc khác nắm 12,1% còn phần của người Việt Nam chỉ là 0,3%.

Sau đó viết:"Hãy suy nghĩ về hai con số đau đớn 3,4 phần trăm và 0,3 phần trăm! Hãy đồng tâm hiệp lực, hãy rủ nhau hùn vốn để giành lấy thị trường".

0,3%, đó là tỷ lệ vốn của người Việt trong nhóm công ty vô danh ở Đông Dương được thống kê đến năm 1944. Tỷ lệ nhỏ đến mức chính Nha Thương vụ gọi là "con số đau đớn". Nếu chọn một con số để hình dung vị thế của giới Công Thương bản xứ trước ngày độc lập, 0,3% có lẽ là con số rõ nhất.

Bài báo còn dẫn cơ cấu vốn của 294 công ty vô danh ở Đông Dương năm 1944, chia thành 6 bậc. Nhóm thấp nhất có 17 công ty với số vốn dưới 20.000 đồng, nhóm cao nhất có 5 công ty vốn trên 10 triệu đồng. Nha Thương vụ nói rõ mục đích đưa ra những con số là cung cấp"mấy điều cần biết trong việc hùn vốn lập công ty".

Thống kê được cơ quan quản lý kinh tế công bố để thương gia nhìn thấy khoảng cách về vốn, rồi từ chính khoảng cách đó, Nha Thương vụ kêu gọi người Việt liên kết, hùn vốn và mở rộng quy mô kinh doanh. Nhìn bằng ngôn ngữ quản lý hiện nay, đây có thể xem là dạng truyền thông chính sách khá sớm: lấy dữ liệu để chỉ ra vấn đề rồi dùng báo chí trực tiếp vận động giới kinh doanh cùng hành động.

Chỉ hơn 3 tuần sau, Nha Thương vụ lại xuất hiện trên mặt báo. Ngày 9/2/1946, báo Độc Lập đăng bài"Thương gia Việt Nam!", cuối bài cũng ký tên Bộ Quốc dân Kinh tế, Nha Thương vụ.

Lần này, câu chuyện bắt đầu từ một thói quen quen thuộc của chợ búa, đó là nói thách. Bài báo phân tích rất cụ thể cái thiệt của cả người bán lẫn người mua: Người bán nói thách với mong muốn khách không sành sẽ trả giá cao. người mua vì không biết đâu là giá thực nên phải mặc cả, đi nhiều hiệu để khảo giá. Một bên muốn bán cao, một bên muốn mua hời, những cuộc cò kè kéo dài khiến cả hai cùng mất thời gian, đến lúc đông khách, nhà hàng càng luống cuống và phải dùng thêm người để tiếp. Từ đó, kết luận dứt khoát:"Nói thách là lối buôn cổ lỗ, không hợp thời nữa".

Bài báo cũng chỉ ra cái lợi nếu bỏ lối nói thách. Người bán niêm yết giá rõ ràng, khách chỉ việc xem giá, ngắm hàng rồi quyết định mua hay sang hiệu khác. Những cuộc cò kè kéo dài được giảm bớt, người bán tiết kiệm thời gian và nhân lực mà vẫn có thể phục vụ nhiều khách hơn. Đồng thời kêu gọi:"Thương gia Việt Nam! Hãy bán giá nhất định, niêm yết rõ ràng".

Một cơ quan cấp bộ giữa lúc cả nước đang đối mặt với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm vẫn dành thời gian vận động những người bán hàng niêm yết giá. Chuyện nhỏ tới mức dễ bị bỏ qua song niêm yết giá là một nền tảng của thương mại minh bạch. Hơn 80 năm sau, yêu cầu đó vẫn được duy trì với những quy định và cách gọi khác.

Hai bài báo cách nhau 3 tuần cũng cho thấy cách Bộ Quốc dân Kinh tế làm việc lúc bấy giờ. Bộ trực tiếp nói với giới buôn bán qua mặt báo, dùng số liệu và những lý lẽ gần với đời sống kinh doanh để vận động thay đổi thói quen mua bán.

Kinh tế tự túc trước ngày Toàn quốc kháng chiến

Ngày 28/2/1946, báo Cứu Quốc đăng bài"Vấn đề kinh tế tự túc trong thời kỳ kháng chiến"của Nguyễn Văn Tố. 2 ngày sau, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I ngày 2/3/1946, ông được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa đầu tiên.

Ông lập luận theo 3 bước.Trước hết,liên lạc thương mại giữa nước ta với thế giới đã bị gián đoạn. Phần đông nhà doanh nghiệp còn e ngại, chưa dám lập những hãng thương mại và kỹ nghệ lớn, đều chờ tình hình yên ổn mới mở mang kinh doanh, khiến chuyện tiếp tế thực phẩm và vật dụng cần thiết ngày càng khó khăn.

Thứ hai,trông cậy vào sự giúp đỡ của nước ngoài cũng gặp nhiều trở lực, nhất là về tiền tệ, bởi tình thế chưa cho phép Chính phủ lập xong một ngân hàng quốc gia để lo việc hối đoái.

Thứ ba,từ thực tế đó, ông cho rằng phải tự cung cấp những thực phẩm và vật dụng cần thiết, tức thi hành chính sách kinh tế tự túc.

Ông dùng cả chữ Pháp"autarchie"để giải thích rõ khái niệm "kinh tế tự túc". Trước băn khoăn đây là chính sách mới và khó thực hiện được lúc này, ông viện dẫn lịch sử và cho rằng, trước khi giao thiệp rộng với Âu Mỹ, ông cha ta vốn đã tự túc. Hàng hóa Trung Hoa đưa sang phần nhiều là những sản phẩm đắt tiền dành cho nhà giàu như đồ sứ Giang Tây, tơ lụa Hàng Châu, còn đại bộ phận dân chúng vẫn dựa vào sản vật trong nước. Ngay cả 10 năm kháng chiến chống quân Minh, dân ta vẫn không đến nỗi thiếu thốn về vật chất.

Từ lập luận đó, ông xác định trước hết phải tự túc về thức ăn và đồ mặc, bởi nền kinh tế nước ta căn bản vẫn dựa vào nông nghiệp, còn các thứ khác cần cho kháng chiến thì thuộc phạm vi Bộ Quốc phòng.

Hai nhu cầu thức ăn và đồ mặc về sau cũng trở thành những phần việc lớn ngành Công Thương đảm nhiệm trong 9 năm kháng chiến. Như vậy, bài báo từ tháng 2/1946 đã đặt ra hướng tự túc về lương thực và đồ mặc gần 10 tháng trước ngày Toàn quốc kháng chiến.

Bộ máy quản lý kinh tế trong năm 1946 cũng liên tục được tổ chức lại. Sắc lệnh số 61 ngày 6/5/1946 quy định Bộ có 5 nha chuyên môn. Hơn 6 tháng sau, ngày 26/11/1946, Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 220 tổ chức Bộ Kinh tế và bãi bỏ Sắc lệnh số 61. Theo đó, cơ cấu còn 3 nha chuyên môn gồm Nha Thường vụ, Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ, Nha Tiếp tế; cùng Ban Thanh tra và Ban Cố vấn Kinh tế. 3 cơ quan này tập trung vào 3 nhóm công việc trực tiếp của nền kinh tế lúc bấy giờ: buôn bán, khai mỏ và kỹ nghệ, tiếp tế.

23 ngày sau, ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, kinh tế bước sang một giai đoạn mới với yêu cầu duy trì sản xuất, bảo đảm tiếp tế, giữ lưu thông hàng hóa và huy động nguồn lực tài chính cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Điều người Pháp đòi và câu trả lời của thực tế

Muốn hiểu những sức ép mà bộ máy kinh tế của chính quyền cách mạng phải đối diện có thể nhìn vào cách phía Pháp đánh giá khả năng quản lý của người Việt trong những cuộc thương lượng đầu năm 1946.

Một bức điện của Kenneth Landon, quan chức phụ trách Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi từ Hà Nội và được Bộ Ngoại giao Mỹ nhận ngày 27/2/1946 thuật lại cuộc trao đổi với Jean Sainteny.

Một bức điện của Kenneth Landon, quan chức phụ trách Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi từ Hà Nội và được Bộ Ngoại giao Mỹ nhận ngày 27/2/1946 thuật lại cuộc trao đổi giữa Landon với Jean Sainteny. Theo lời Sainteny, phía Pháp muốn các cơ quan của Việt Nam nghe lời cố vấn Pháp. Riêng lĩnh vực tài chính và thương mại, Sainteny cho rằng người Việt thiếu kinh nghiệm và có thể gây phương hại tới lợi ích đầu tư của Pháp.

"Người An Nam không thạo những việc này",đó là cách phía Pháp nhìn khả năng tự quản lý tài chính và thương mại của một quốc gia vừa giành độc lập.

Tuy nhiên trên bàn thương lượng, quyền tự chủ về những lĩnh vực cốt yếu của một quốc gia lại là điều phía Việt Nam liên tục đặt ra. Nhà sử học William J. Duiker dẫn lại một thông điệp của ông Hoàng Minh Giám, theo đó Việt Nam có thể chấp nhận sự hiện diện về văn hóa và kinh tế của Pháp nhưng phải giữ quyền kiểm soát quân đội, tài chính và ngoại giao cùng yêu cầu thống nhất ba kỳ.

Một tài liệu ngoại giao Mỹ đương thời cho thấy tài chính cũng là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp nhấn mạnh. Bức điện của Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn gửi Ngoại trưởng ngày 27/4/1946 sau chuyến ra Hà Nội ghi lại cuộc gặp với Người. Theo bức điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu quân Pháp phải chấm dứt việc tiếp tục đưa quân vào Nam Bộ đồng thời nêu rõ yêu cầu về độc lập hoàn toàn về tài chính, có ngân hàng riêng và quyền phát hành giấy bạc riêng.

Bức điện còn cho biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặt hy vọng vào khả năng hợp tác nếu phía Pháp thực hiện đúng các cam kết; đồng thời cho rằng Việt Nam cần sự giúp đỡ từ bên ngoài, trước hết về vốn và kỹ thuật. Như vậy, tự chủ về tài chính không đồng nghĩa với khép cửa, Việt Nam có thể cần nguồn lực và hỗ trợ từ bên ngoài nhưng quyền quyết định những vấn đề căn bản về tài chính phải thuộc về mình.

Câu trả lời trước nhận xét người Việt "không thạo" công việc kinh tế còn nằm trong những gì bộ máy mới đã làm.

Trong những tháng đầu, Bộ Quốc dân Kinh tế từng bước tổ chức bộ máy, tham gia giải quyết vấn đề lương thực, kêu gọi giới buôn gạo hợp tác, bãi bỏ một số thể lệ quản lý cũ và trực tiếp trao đổi với giới Công Thương qua báo chí. Trong năm đầu hoạt động, tư liệu hiện thống kê được 35 nghị định mang ký hiệu của Bộ cùng nhiều hoạt động liên quan tới thương mại, giá cả, tiếp tế và đào tạo cán bộ kỹ nghệ.

Một bên cho rằng người Việt chưa đủ khả năng tự quản lý tài chính và thương mại. Một bên vừa giành độc lập đã phải tự dựng bộ máy, lo lương thực, giữ dòng lưu thông hàng hóa và từng bước tạo lập công cụ quản lý kinh tế giữa nạn đói, lụt lội cùng nhiều sức ép bên ngoài.

Câu trả lời nằm trong chính những việc đã làm...

"Mặt trận kinh tế" và người Bộ trưởng ở lại

Trong bản Tuyên ngôn của Công Thương Cứu quốc Đoàn in xong ngày 5/10/1945 đã viết:"Mặt trận Chính trị Quân sự quan hệ như thế nào thì mặt trận Kinh tế cũng quan hệ như thế". Cụm từ "mặt trận kinh tế" đã được giới Công Thương tham gia phong trào cứu quốc sử dụng ngay từ mùa thu năm 1945.

Sang năm 1946, cách gọi tiếp tục xuất hiện trên báo chí và trong những trao đổi liên quan trực tiếp đến công việc làm ăn. Theo đó, tháng 6/1946, báo Quyết Chiến đăng nhiều bài về Bình dân Ngân hàng, một tổ chức đang vận động huy động vốn trong dân. Trong bài ngày 1/6, một nhóm công nhân ở Thuận Hóa sau khi dự buổi nói chuyện đã nêu lý do tán thành, coi đây là hình thức đoàn kết toàn dân tham gia "mặt trận kinh tế', cùng góp sức vào công cuộc chung của đất nước.

Cũng trên báo Quyết Chiến ngày 20/6/1946, một thương gia gửi thư tới những người cùng nghề. Ông nói thẳng nỗi lo của giới buôn bán trước tình hình tiền tệ và tương lai thương mại:"Trước tình thế gay go, hiện trạng tiền tệ mập mờ, chúng ta đâm lo nghĩ, muốn tìm một lối chính đáng mà đi, nhưng chúng ta chỉ bước những bước trong sương mù".

Sau đó đặt thẳng câu hỏi: "Rồi đây hiệp định chính thức giữa Việt và Pháp sẽ ký. Và sau đó con đường của chúng ta về thương mãi sẽ là thế nào?"

Cuối bức thư, ông xác định phần việc của giới mình trong công cuộc kiến thiết đất nước:"Giai đoạn hiện tại là một giai đoạn kiến thiết. Nhiệm vụ kiến thiết lại quốc gia là một nhiệm vụ chung. Về chính trị và văn hoá chúng ta nhường bước cho các nhà chuyên môn nhiều kinh nghiệm và hăng hái. Về kinh tế chúng ta phải nhận lấy bổn phận của chúng ta. Một bổn phận nặng nề, vì rồi đây phải đương đầu với tư bản ngoại quốc".

Người thương gia đó cũng cảnh báo về sự yếu thế nếu từng người riêng lẻ tự xoay xở:"Nếu riêng từng người một mà tranh đấu, mỗi người trong chúng ta chịu đựng sao nổi sức mạnh của khối bạc triệu bủa trên đầu".

Bức thư ghi lại khá rõ tâm thế của một người trong giới buôn bán năm 1946. Người viết đặt công việc kinh doanh trong nhiệm vụ kiến thiết quốc gia, nhìn thấy sức ép của nguồn vốn ngoại quốc và nhấn mạnh nhu cầu liên kết thay vì mỗi người tự xoay xở.

Đến giữa năm 1946, "mặt trận kinh tế" đã gắn với những vấn đề cụ thể như vốn, tiền tệ, ngân hàng và sự liên kết của giới làm ăn. Cụm từ không còn nằm riêng trong bản tuyên ngôn tháng 10/1945 mà đã xuất hiện trên báo chí và trong chính lời những người đang tham gia hoạt động kinh tế.

Ngày 19/12/1946, Toàn quốc kháng chiến, công việc kinh tế bước sang hoàn cảnh mới. Sản xuất, tiếp tế, lưu thông hàng hóa và tài chính gắn ngày càng chặt với yêu cầu của cuộc kháng chiến lâu dài.

2 năm sau, giữa chiến khu Việt Bắc, Mặt trận Kinh tế trở thành tên một tờ tin của Bộ Kinh tế và sau này được xác định là một trong những ấn phẩm tiền thân của Báo Công Thương.

Còn Nguyễn Mạnh Hà, người đã rời ghế Bộ trưởng ngay đầu năm 1946, tiếp tục đi trên một con đường khác.

Trong một dịp khác, ông Nguyễn Mạnh Hà kể:"Đến tháng 3/1946, Cụ Hồ Chí Minh lại bảo tôi: "Bây giờ tôi thấy cần phải trao cho chú một nhiệm vụ khác, quan trọng hơn việc chú đang làm, mà việc mới này, chỉ có chú mới có thể hoàn thành được, đó là tiến hành trong hậu trường cuộc đàm phán với Pháp".Đó là sự kiện ông Nguyễn Mạnh Hà trở thành thành viên trong Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang đàm phán với Pháp tại Hội nghị Fontainebleau trên cương vị thành viên Ủy ban Kinh tế Tài chính.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông ở lại Hà Nội, công khai bày tỏ quan điểm ủng hộ Chính phủ kháng chiến ở Việt Bắc, bất hợp tác với chính quyền thực dân và bị nhà cầm quyền Pháp xếp vào nhóm có tư tưởng "thân Việt Minh".

Với kiến thức luật học, ông cùng luật sư Vũ Văn Hiền tham gia bào chữa trong nhiều phiên tòa xét xử những người bị cáo buộc tham gia hoặc hỗ trợ kháng chiến, nhiều bị cáo đã được xử trắng án và trả tự do.

Năm 1951, Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny - Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương ra lệnh trục xuất Nguyễn Mạnh Hà cùng gia đình sang Pháp. Tại đây, ông được cử giữ chức Thanh tra lao động của Chính phủ Pháp. Năm 1965, ông sang Campuchia tham gia Đại hội Nhân dân Đông Dương do Quốc vương Sihanouk triệu tập, thảo luận về tình hình Mỹ can thiệp vào Đông Dương.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Nguyễn Mạnh Hà được mời trở về Việt Nam thăm Hà Nội, Hải Phòng và Hưng Yên.

Trong một lần trở lại Thủ đô, ông nói: "Mặc dầu tuổi đã cao và sức yếu, tôi thấy có bổn phận phải về thủ đô Hà Nội để chia sẻ cùng toàn thể dân tộc. Tôi tâm tình biết ơn sâu sắc người Cha chung của đất nước là Cụ Hồ Chí Minh, Người đã suốt đời cố gắng theo đuổi mục đích là mang về cho chúng ta độc lập, tự do, hạnh phúc".

Những chi tiết được đề cập đã phần nào ghép nên chân dung bộ kinh tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng lớp người đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành Công Thương giữa muôn vàn khó khăn của những ngày đầu lập quốc.>> Kỳ sau: Mặt trận không tiếng súng giữa chiến khu.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.