Đó là đánh giá của TS. Hoàng Trường - Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Đào tạo - Viện Nghiên cứu chiến lược, Chính sách Công Thương tại Tọa đàm “Nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển bền vững nhân lực ngành Công Thương”, ngày 29/9.
Thể hiện bản lĩnh, năng lực thực thi
- Sau quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, ông đánh giá như thế nào về năng lực nghề nghiệp, kỹ năng thực thi và khả năng thích ứng hiện nay của đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động ngành Công Thương?
TS. Hoàng Trường: Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực (được cụ thể hóa tại Nghị định 351/2026-NĐ-CP ngày 11/9/2026 của Chính phủ) là bước đi chiến lược của ngành Công Thương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Viện Nghiên cứu chiến lược, Chính sách Công Thương với vai trò là cơ quan thực hiện chức năng nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học và đánh giá hiệu lực, hiệu quả chính sách cho Bộ Công Thương, chúng tôi nhìn nhận sự chuyển dịch này mang lại cơ hội lớn, như sau:
Về năng lực nghề nghiệp và bản lĩnh thực thi thể chế, sau Nghị định 40/2025/NĐ-CP ngày 26/5/2025, đến ngày 11/9/2026 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định mới quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Trong bối cảnh thay đổi lớn về tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc tăng lên sau sắp xếp, kiện toàn bộ máy nhưng đội ngũ cán bộ đã thể hiện bản lĩnh, năng lực thực thi và khả năng thích ứng; giữ vững tinh thần, trách nhiệm, đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước diễn ra liên tục, thông suốt.
Ngoài ra, đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn ngành thể hiện chuyên môn vững vàng qua nắm chắc hệ thống pháp luật, điều hành linh hoạt và thực thi hiệu quả công cụ quản lý nhà nước, từ công tác quy hoạch, cấp phép, kiểm tra, kiểm soát thị trường đến thẩm định chính sách. Đồng thời, có sự dịch chuyển tư duy quản lý, đội ngũ đã từng bước thoát khỏi tư duy chuyên môn hẹp, hay sân nhà để tiếp cận tích hợp theo chuỗi giá trị và tư duy liên ngành. Trình độ tham mưu chính sách cấp chiến lược nhờ đó được nâng lên rõ rệt.
Đặc biệt, trước biến động kinh tế toàn cầu, lực lượng tham mưu và thực thi đã chủ động, nhạy bén trong việc giữ vững các thị trường xuất nhập khẩu trọng điểm, tháo gỡ kịp thời các rào cản kỹ thuật, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì chuỗi cung ứng và tận dụng tối đa lợi thế từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia nhằm giữ vững thị trường truyền thống.
Về kỹ năng thực thi và năng lực số. Bộ máy tinh gọn đòi hỏi mỗi cán bộ, người lao động phải đóng nhiều vai hơn, tuy duy đa ngành, đa lĩnh vực hơn; áp lực về khối lượng công việc lớn trên mỗi cán bộ đã thúc đẩy mạnh mẽ tính chủ động, kỹ năng quản lý thời gian và khả năng làm việc độc lập, góp phần nâng cao năng suất và tính chủ động. Theo đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã chủ động ứng dụng dữ liệu số và các công cụ công nghệ hiện đại vào quy trình và rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết thủ tục hành chính, bước đầu dần làm chủ chuyển đổi số.
Về khả năng thích ứng linh hoạt, tư duy kiến tạo. Trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành Công Thương. Trong bối cảnh đó, áp lực về khối lượng công việc, yêu cầu phối hợp và khả năng xử lý tình huống tại cơ sở cũng gia tăng. Tuy nhiên, đây đồng thời là động lực để đội ngũ cán bộ phát huy tinh thần tự chủ, chủ động thích ứng, nâng cao năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
- Thưa ông, ngành Công Thương đang đứng trước những chuyển động mạnh mẽ của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực tế này đang đặt ra những yêu cầu gì đối với cơ cấu và phát triển chất lượng nguồn nhân lực của ngành?
TS. Hoàng Trường: Bộ Công Thương quản lý dải ngành rất rộng, từ các ngành công nghiệp nền tảng (điện, dầu khí, hóa chất, cơ khí, khoáng sản...) đến thương mại trong nước, thương mại điện tử, xuất nhập khẩu, logistics và hội nhập kinh tế quốc tế... Bên cạnh đó, hai ‘làn sóng’ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang đặt ra một số yêu cầu cốt lõi đối với nguồn nhân lực ngành Công Thương:
Thứ nhất, đó là sự chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực. Bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng đang thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu nhân lực ngành Công Thương theo 3 định hướng chiến lược. Đó là dịch chuyển từ "thâm dụng lao động" sang "thâm dụng trí thức và công nghệ". Chuyển dịch mạnh mẽ lực lượng lao động từ các ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sang đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn, kỹ năng công nghệ và khả năng tư duy liên ngành. Hình thành lực lượng nhân lực có sự tích hợp giữa công nghệ - chính sách - tài chính và tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trong tình hình mới.
Bùng nổ nhu cầu đối với các nhóm nhân lực thuộc các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ mới. Theo đó, về khối công nghiệp và năng lượng, hiện đang gia tăng đột biến nhu cầu nhân lực trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng tái tạo, năng lượng mới (như hydro, điện gió ngoài khơi) và sản xuất thông minh. Khối thương mại và dịch vụ hạ tầng, đòi hỏi lực lượng nhân lực chuyên sâu vận hành hạ tầng số, thương mại điện tử xuyên biên giới, chuỗi cung ứng và logistics thông minh.
Hình thành đội ngũ chuyên gia tiệm cận toàn cầu về "xanh và bền vững". Nhu cầu, bổ sung gấp rút nhóm chuyên gia về biến đổi khí hậu, quản trị năng lượng bền vững, sản xuất và tiêu dùng bền vững. Đào tạo lực lượng làm chủ các công cụ, quy chuẩn mới như: Kiểm kê khí nhà kính, vận hành thị trường carbon, tiêu chuẩn ESG, tài chính xanh, cũng như am hiểu sâu về kỹ thuật phòng vệ thương mại quốc tế.
Xuất hiện các vị trí việc làm hoàn toàn mới trong ngành Công Thương mà trước đây chưa từng có: Chuyên gia phân tích dữ liệu thị trường và chuỗi cung ứng, chuyên gia quản trị năng lượng xanh, kiểm toán carbon, tư vấn tiêu chuẩn ESG cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hay các kỹ sư vận hành hệ thống tự động hoá thông minh.
Thứ hai, về chất lượng nguồn nhân lực: Thực tiễn đòi hỏi lực lượng cán bộ và doanh nghiệp bên cạnh những năng lực hiện có cần bổ sung thêm 3 nhóm năng lực then chốt mới đó là: Năng lực chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, đó là nắm vững chuyên môn gắn với kiểm kê khí nhà kính, tiêu chuẩn ESG, lộ trình Net Zero và các quy định xuất khẩu xanh như CBAM, EUDR. Khai thác hiệu quả dữ liệu ngành trên các nền tảng số, ứng dụng AI và Big Data vào quản lý, sản xuất và logistics thông minh. Chủ động cập nhật thể chế, nâng cao khả năng dự báo và xử lý biến động thị trường, đứt gãy chuỗi cung ứng và tranh chấp thương mại. Đây chính là 3 trụ cột năng lực giúp nguồn nhân lực ngành Công Thương giữ vững bản lĩnh thực thi và thích ứng hiệu quả trong bối cảnh mới.
Thứ ba, về mô hình đào tạo và thể chế thu hút nhân tài. Đó là, đổi mới căn bản mô hình đào tạo và bồi dưỡng: Chuyển từ "đào tạo theo khả năng" sang "đào tạo theo cầu thị trường": Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Công Thương cần gắn kết chặt chẽ với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn để đồng thiết kế chương trình đào tạo tích hợp và cấp các chứng chỉ kỹ năng xanh, kỹ năng số ngắn hạn. Đẩy mạnh mô hình tái đào tạo và nâng cao kỹ năng, lực lượng lao động hiện hữu (gồm cả cán bộ quản lý nhà nước và lao động doanh nghiệp) phải được cập nhật kiến thức liên tục thông qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn chuyên sâu về công nghệ mới, tiêu chuẩn mới và chính sách mới.
Đổi mới sâu sắc phương thức đào tạo, bồi dưỡng
- Thực hiện Quyết định số 289/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về Kế hoạch phát triển đội ngũ trí thức, xác định đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới, định hướng đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương trong giai đoạn 2026-2030 ra sao, thưa ông?
TS. Hoàng Trường: Thực hiện Quyết định 289/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về phát triển đội ngũ trí thức, và căn cứ chức năng, nhiệm vụ mới được Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định tại Quyết định số 2242/QĐ-BCT ngày 11/9/2026, Viện Nghiên cứu chiến lược, Chính sách Công Thương xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Theo đó, giai đoạn 2026-2030, Viện triển khai đổi mới sâu sắc phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo 4 định hướng đột phá bám sát nhiệm vụ được giao. Cụ thể:
Đổi mới tư duy đào tạo: Chuyển từ "trang bị kiến thức" sang "nâng cao năng lực hoạch định chính sách". Để khẳng định vai trò là trung tâm tư vấn, luận cứ khoa học hàng đầu của Bộ, Viện tập trung vào 2 trụ cột đổi mới cốt lõi,một là, đào tạo "thực chiến" gắn với các đề án lớn của Bộ. Cán bộ, công chức phải được tham gia trực tiếp, gián tiếp vào các dự án thực tế: Từ quy hoạch phát triển ngành, chính sách chuyển dịch năng lượng, đến giải bài toán chuỗi cung ứng và logistics. Trang bị sâu các công cụ phân tích hiện đại (như đánh giá tác động chính sách, mô hình hóa kinh tế) để các báo cáo tham mưu gửi Lãnh đạo Bộ luôn đúng, trúng và khả thi. Đào tạo gắn liền với các đề án thực tế của Bộ (quy hoạch ngành, chính sách năng lượng, logistics, chuỗi cung ứng...). Đội ngũ cán bộ, nghiên cứu viên trẻ sẽ tham gia trực tiếp vào các dự án điều tra thực tế tại doanh nghiệp, địa phương, và tham gia xây dựng các đề án chính sách thực tiễn của Bộ.
Hai là, đổi mới từ 'đào tạo theo năng lực sẵn có' sang 'đào tạo theo bài toán chiến lược của ngành', theo đó, chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Viện sẽ bám sát các Nghị quyết lớn như Nghị quyết 71-NQ/TW về giáo dục đào tạo, Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tập trung bồi dưỡng đúng những chủ đề "nóng" và cấp thiết nhất của ngành hiện nay, xây dựng thể chế công nghiệp, khai thác khoáng sản, chiến lược năng tượng mới (hydro, điện gió ngoài khơi), kỹ năng phòng vệ thương mại, kiểm kê khí nhà kính và phát triển kinh tế xanh. Đào tạo gắn với các đề án thực tế của Bộ (như quy hoạch ngành, chính sách logistics, năng lược). Đội ngũ cán bộ được trang bị sâu phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình kinh tế và đánh giá tác động chính sách để đảm bảo sản phẩm tham mưu luôn đúng, trung và tính khả thi cao.
Bên cạnh đó, chuẩn hóa và hiện đại hóa chương trình đào tạo bồi dưỡng, Viện sẽ tập trung đổi mới giáo trình, đưa các hàm lượng tri thức mới nhất về: Chiến lược công nghiệp và thương mại trong bối cảnh mới; quản trị chuyển đổi xanh; kinh tế số; xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật; và kỹ năng đánh giá tác động chính sách vào chương trình giảng dạy. Đồng thời, đổi mới phương thức và mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo. Theo đó, đào tạo gắn liền với luận cứ khoa học và thực tiễn. Chuyển mạnh từ lý thuyết sang đào tạo qua hành động. Đội ngũ cán bộ, nghiên cứu viên trẻ sẽ tham gia trực tiếp vào các dự án điều tra thực tế tại doanh nghiệp, địa phương và tham gia xây dựng các đề án chính sách thực tiễn của Bộ.
Ngoài ra, Viện sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục củng cố và phát triển các nền tảng học tập trực tuyến. Toàn bộ các kết quả nghiên cứu, ấn phẩm khoa học của Viện sẽ được biên tập, chuyển hóa và số hóa thành tài liệu bồi dưỡng chuẩn, tạo thành nguồn tài nguyên tri thức mở giúp cán bộ toàn ngành có thể truy cập, tự học và cập nhật kiến thức liên tục
Xin cảm ơn ông!
Theo TS. Hoàng Trường, đội ngũ các bộ, công chức trong ngành Công Thương đã thích ứng rất nhanh với các yêu cầu phối hợp đa ngành. Bên cạnh đó, thể hiện sự linh hoạt trước các yêu cầu toàn cầu như chuyển dịch năng lượng, phát triển kinh tế xanh, vận hành thị trường carbon, thương mại điện tử xuyên biên giới và các tiêu chuẩn trong FTA thế hệ mới. Qua đó, minh chứng cho tinh thần chủ động, kiến tạo và luôn đồng hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp để đón đầu xu thế mới.