Thứ tư, 30/09/2026

Bảo đảm đủ điện: Cần sự vào cuộc quyết liệt của địa phương

Trước yêu cầu tăng trưởng hai con số, việc chủ động hạ tầng điện năng và đẩy nhanh tiến độ dự án năng lượng là nhiệm vụ chiến lược của các cấp, các ngành.

Bảo đảm đủ điện: Cần sự vào cuộc quyết liệt của địa phương

Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện là một trong những yếu tố nền tảng và quyết định để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm cung ứng đủ điện trong mọi tình huống là mục tiêu chiến lược xuyên suốt. Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc cụ thể hóa bằng các quyết sách hạ tầng và sự chủ động của từng địa phương chính là thước đo hiệu quả thực thi.

Yêu cầu đảm bảo điện cho tăng trưởng hai con số

Ngày 15/4/2025, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 điều chỉnh (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh). Mục tiêu xuyên suốt là cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Đến năm 2030, điện thương phẩm đạt khoảng 500,4 - 557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu đạt khoảng 560,4 - 624,6 tỷ kWh; công suất cực đại toàn hệ thống đạt khoảng 89.655 - 99.934 MW.

Để bảo đảm mục tiêu đã đề ra, yêu cầu đặt ra đối với ngành điện là vô cùng lớn. Theo đánh giá của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng công suất nguồn điện tối thiểu phải đạt khoảng 15%/năm. Cùng với việc bảo đảm nguồn và lưới điện, công tác hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách là yêu cầu cấp thiết cần tập trung triển khai thực hiện. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo làm động lực chính, biến tính ổn định của hạ tầng cung ứng điện trở thành yếu tố then chốt, quyết định sức cạnh tranh và đà phát triển của quốc gia.

Bảo đảm an ninh năng lượng cần sự vào cuộc đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, không thể phó mặc cho riêng ngành điện hay một vài địa bàn. Ảnh minh hoạ

Tuy nhiên, thực trạng cung ứng điện hiện nay đang đối mặt với không ít thách thức, việc triển khai các dự án nguồn điện nền quy mô lớn trên cả nước đang có nguy cơ chậm tiến độ kéo dài. Theo báo cáo của Bộ Công Thương vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026 - 2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, có khoảng 44.900 MW nguồn điện nguy cơ trễ hạn, trong đó điện khí LNG chậm khoảng 21.000 MW, điện gió ngoài khơi chậm 6.000 MW, thủy điện tích năng chậm 4.500 MW và nhập khẩu điện chậm 6.400 MW. Khâu tổ chức thực hiện, đền bù giải phóng mặt bằng và sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các cấp chính là điểm nghẽn chính.

Trước áp lực cung ứng điện, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) được xem là giải pháp khả thi nhằm giảm tải cho hệ thống truyền tải. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 7404/BCT-DL đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu theo Luật Điện lực 2024. Theo Bộ Công Thương, đến thời điểm hiện tại, trên cả nước mới chỉ có 02/34 tỉnh, thành phố (gồm Bắc Ninh và Lai Châu) hoàn thành việc ban hành chính sách hỗ trợ này.

Sự chậm trễ trong việc ban hành chính sách hỗ trợ tại đa số các tỉnh, thành phố, cùng với quy mô đầu tư BESS còn hạn chế cho thấy việc phát triển các nguồn điện tự sản tự tiêu vẫn chưa phát huy hết tiềm năng như kỳ vọng.

Đẩy mạnh giải pháp nguồn, lưới và gỡ vướng chính sách

Về phía ngành điện, việc đầu tư hạ tầng lưu trữ năng lượng (BESS) bước đầu đã được triển khai nhưng quy mô còn khiêm tốn. Tại miền Bắc, trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVNHANOI) đã hoàn thiện lắp đặt hệ thống pin lưu trữ (BESS) tại các trạm biến áp 110kV trên địa bàn Thành phố Hà Nội, được EVNHANOI triển khai tại 5 trạm biến áp 110kV: Bắc Thăng Long, Quang Minh, Sài Đồng 2, Phùng Xá và Thanh Oai. Mỗi hệ thống BESS có quy mô 10MW/20MWh, được tích hợp vào lưới điện phân phối để hỗ trợ công tác vận hành, điều tiết phụ tải và nâng cao độ linh hoạt của hệ thống điện.

Tỉnh Bắc Ninh cũng là một trong những địa bàn được Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đầu tư BESS quy mô lớn, giai đoạn đầu đã lắp đặt tại 6 trạm biến áp 110kV, hoàn thành trong tháng 8/2026. Dự kiến giai đoạn 2 có quy mô 5MW tại trạm 110kV Sông Cầu, giai đoạn 3 dự kiến 40MW tại 6 trạm 110kV. Bên canh đó, hệ thống BESS đầu tiên tại Ninh Bình được lắp đặt tại trạm biến áp 110kV Phúc Sơn, có công suất 5MW, dung lượng 10MWh và đưa vào vận hành từ ngày 21/8. EVNNPC đang tiếp tục triển khai 8 hệ thống BESS tại Ninh Bình, dự kiến sẽ đóng điện vào cuối tháng 9/2026, góp phần giảm áp lực cho lưới điện trong giờ cao điểm và nâng cao độ tin cậy cung cấp.

Trong khi đó, khu vực miền Trung và miền Nam, nơi tập trung mật độ nguồn năng lượng tái tạo cao nhất cả nước, các dự án BESS hiện chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc mang tính chất thử nghiệm, tích hợp nội bộ tại một số nhà máy điện mặt trời, điện gió ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại các trung tâm phụ tải lớn như Thành phố Hồ Chí Minh hay Đồng Nai, một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp đã chủ động lắp đặt BESS quy mô nhỏ để cắt đỉnh phụ tải giờ cao điểm, nhưng toàn hệ thống lưới truyền tải miền Trung và miền Nam vẫn chưa có các trạm BESS tập trung quy mô lớn do thiếu khung giá và cơ chế thù lao dịch vụ phụ trợ.

Để thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án phát triển điện lực, mới đây, tại Thông báo số 458/TB-VPCP ngày 30/8/2026 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận tại cuộc họp về tình hình triển khai các công trình, dự án trọng điểm ngành năng lượng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã nhấn mạnh yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu lãnh đạo các địa phương phải trực tiếp chỉ đạo, phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có dự án; phối hợp chặt chẽ với EVN và các chủ đầu tư trong công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm an ninh, an toàn thi công. Địa phương nào để xảy ra tình trạng dự án chậm triển khai so với quy hoạch đã được phê duyệt thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đó phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, các địa phương phải khẩn trương rà soát, tổng hợp khó khăn, vướng mắc, chủ động đề xuất phương án xử lý hoặc thay thế nhà đầu tư yếu kém để bảo đảm tiến độ đưa các công trình điện vào vận hành.

Phát triển năng lượng và bảo đảm cung ứng đủ điện là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, không thể chỉ trông chờ hay phó mặc cho một vài địa phương hoặc riêng ngành điện. Chỉ khi có sự đồng lòng, vào cuộc quyết liệt và hành động nhất quán từ các Bộ, ngành đến từng địa phương, bài toán cung ứng đủ điện cho nền kinh tế mới tìm được lời giải vững chắc và toàn diện.

Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nhiệm vụ chiến lược, nền tảng để giữ vững đà tăng trưởng kinh tế - xã hội. Để bảo đảm cung ứng đủ điện trong mọi tình huống, bên cạnh nỗ lực của ngành điện, chính quyền các địa phương cần chủ động vào cuộc, quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn về mặt bằng, thủ tục đầu tư và kịp thời ban hành chính sách hỗ trợ phát triển các nguồn năng lượng tại chỗ theo đúng quy định.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.