Thứ tư, 22/07/2026

‘Bằng giá nào em cũng phải chăm nuôi mẹ đến cùng’

Là lời gửi gắm và dặn dò của liệt sĩ, nhà báo Thẩm Đức Hòa với vợ trên triền đê sông Hồng trước khi ra chiến trường. Đây cũng là lần gặp cuối cùng của một cuộc chia ly đầy nước mắt.

‘Bằng giá nào em cũng phải chăm nuôi mẹ đến cùng’ — Trung đoàn 238 Liên khu Việt Bắc

Những ngày cuối tháng 7, trong ngôi nhà nhỏ ở phường Ngô Gia Tự (Hà Nội), tôi đến thăm cựu chiến binh Phương Bích Ngân - nguyên y tá thuộc Trung đoàn 238 Liên khu Việt Bắc. Trước khi vào cuộc trò chuyện, bà bảo, xưng hô thế nào nhỉ, bà hay tôi, tôi nói, “u” cứ xưng hô với con thế nào cũng được ạ.

Bà cười hiền rồi bảo. Thế cho u xưng bằng u nhé. Rồi u khoe với tôi:"Hàng ngày vẫn nhận được báo giấy, nên u vẫn thường hay đọc".Trong phạm vi bài viết này, cho tôi xin phép được xưng hô là "u Ngân".

Sinh năm 1936, năm nay, u Ngân bước sang tuổi 90, dáng người nhỏ nhắn nhưng giọng nói của u còn rất khỏe khoắn với nụ cười rất tươi. U Ngân sử dụng điện thoại rất thành thạo để trao đổi với bạn bè, người thân và chỉ đường cho tôi. Ít ai hình dung được người phụ nữ có gương mặt hồng hào ấy đã đi qua gần trọn một thế kỷ chiến tranh và mất mát.

Cựu chiến binh Phương Bích Ngân, nguyên y tá thuộc Trung đoàn 238 Liên khu Việt Bắc - vợ liệt sĩ Thẩm Đức Hoà bên cuốn album ảnh của gia đình.

U Ngân là con gái liệt sĩ, vợ của liệt sĩ, nhà báo Thẩm Đức Hòa - nguyên phóng viên Thông tấn Quân sự, phóng viên chương trình phát thanh Quân đội nhân dân, phóng viên Thông tấn xã Quân giải phóng miền Nam, sau ông được chuyển về công tác tại Cục Tuyên huấn (Tổng Cục chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam).

U Ngân có hoàn cảnh khá đặc biệt, mồ côi cha mẹ từ rất sớm. Cha của u Ngân là liệt sĩ Phương Đình Khiêm, Công an thành phố Hà Nội, hy sinh năm 1947 tại Phùng (Sơn Tây, Hà Nội) khi u Ngân mới 11 tuổi. Hai năm sau, mẹ u Ngân (khi đó 43 tuổi) cũng qua đời. Năm anh chị em u Ngân lúc đó tự lực nuôi nhau. U còn gánh đậu từ Thạch Bàn lên phố Gia Lâm bán kiếm sống.

Năm 1952, khi vừa 16 tuổi, được gia đình đồng ý, u Ngân nhập ngũ vào C434, Trung đoàn 238, Liên khu Việt Bắc, làm cứu thương ở bệnh xá quân y, tham gia phục vụ chiến dịch ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phú, Quảng Yên.

U Ngân kể, ngày ấy chưa qua một lớp y tá nào, đồng đội tự dạy nhau băng bó, cầm máu. Cô gái 16 tuổi không sợ máu, xông xáo ở đội phẫu thuật tiền phương. Những năm tháng ấy rèn cho u Ngân bản lĩnh giúp u vững vàng trước sóng gió của cuộc đời.

Chùm hoa sim giữa chiến khu

Liệt sĩ, nhà báo Thẩm Đức Hòa vốn là liên lạc của đội du kích Hồng Hà, nơi anh trai u Ngân tham gia, nên quen biết u Ngân từ khi u còn nhỏ tuổi. Tháng 7/1947, khi chưa đầy 17 tuổi, ông lên đường nhập ngũ. Sau đó, ông chuyển sang Đại đoàn 308, đến năm 1954, 1955 thì viết thư tìm lại người quen cũ.

Lúc đó, u Ngân đang công tác tại Quân khu Đông Bắc. Hai bên gửi thư qua lại, tìm hiểu nhau qua từng trang giấy. Trong lá thư viết dịp Tết Hoà bình Ất Mùi 1955, ông trình bày rành mạch trước khi ngỏ lời muốn tìm hiểu u Ngân:“Anh đã suy xét kỹ trước khi hạ bút nói chuyện. Chuyện ấy là: Anh có ý định cùng em xây dựng hạnh phúc nên vợ nên chồng sau này… Anh và em cùng bộ đội, cùng một chí hướng điều đó làm chúng ta hiểu nhau sâu sắc tuy không ở gần nhau… Chúng ta cùng phục vụ cách mạng. Cách mạng thắng lợi, tất nhiên chúng ta sẽ có hạnh phúc đầy đủ… Em suy xét kỹ rồi trả lời anh…”.

Ngày 24/6/1956, đơn vị tổ chức lễ thành hôn cho hai người ngay tại chiến khu. Đám cưới thời chiến không nhẫn, không hoa hồng, chỉ có bộ quân phục và chùm hoa sim, hoa mua dại đồng đội hái tặng. Cưới xong, hai vợ chồng chỉ ở bên nhau vỏn vẹn 5, 6 ngày rồi ông lại lên đường công tác.

Trước lúc chia tay, ông viết vào tay bà mấy câu thơ: “Trên bến một buổi chiều, anh về em ở lại, tâm hồn trào thương yêu”, u Ngân bồi hồi nhớ lại và đọc cho tôi nghe.

Hai năm sau, trong thư đề ngày 24/4/1957, ông viết:“… Không, không bao giờ, không gì có thể đoạt được tình yêu của chúng ta, anh tự tin và sắt đá tin như vậy… Ngày hội của giai cấp năm nay cũng là ngày chúng ta ôn lại cuộc đời đẹp đẽ đầy vinh quang của tuổi trẻ và tình yêu. Chúng ta hăng hái phấn đấu cho sự đẹp đẽ và vinh quang ấy”.

Ở một bức thư khác đề ngày 8/7/1959 ông viết:“Anh thấy tình yêu, gia đình hạnh phúc của chúng ta vô cùng gắn bó với tiền đồ cách mạng, lý tưởng của chúng ta gắn bó với lý tưởng của Đảng… lòng anh lại thấy tự hào vì anh đã được một người như em yêu quý và chung sống. Anh thầm cảm ơn cách mạng đã đem lại hạnh phúc cho chúng ta, thầm cảm ơn em đã yêu anh tha thiết…”.

Lá thư nào của ông gửi u Ngân cũng tràn đầy yêu thương với mở đầu là“Bích Ngân yêu quý của anh!”hay“Em yêu!”. Tái bút ông thường để:“Anh của em”… và sau này, khi u Ngân được đứng trong hàng ngũ của Đảng, có bức ông ghi thêm:“Đồng chí của em”.

Từ đó, nhà báo chiến trường Thẩm Đức Hòa gắn đời mình với những chuyến công tác dài, hai vợ chồng chủ yếu gặp nhau qua các trang thư tay. 10 năm chung sống, ba người con lần lượt chào đời, nhưng chưa lần nào ông về nhà trọn vẹn một tuần. U Ngân nói:“Hễ ông về thăm nhà là u lại mang thai, rồi một mình u ở nhà nuôi con. Vất vả, xa cách nhưng vợ chồng chưa từng nặng lời với nhau một câu”.

Gia đình cựu chiến binh Phương Bích Ngân cùng chồng con năm 1966 trước ngày chồng vào Nam chiến đấu. Ảnh được tác giả chụp lại từ album.

Lời dặn bên triền đê sông Hồng

U Ngân bồi hồi nhớ lại ngày chồng bà, liệt sĩ Thẩm Đức Hoà viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go. Sáng 31/5/1966, u Ngân bế cô con gái út chưa đầy 3 tuổi tiễn chồng đến triền đê sông Hồng để vào chiến trường B. Lúc đó, liệt sĩ Thẩm Đức Hoà ôm chặt hai mẹ con vào lòng nghẹn ngào nói:“Mẹ chỉ có mình anh là con trai, bằng giá nào em cũng phải chăm nuôi mẹ đến cùng”rồi cả hai cùng khóc. U bảo, lời dặn dò đó như một lời trăng trối trước điều chẳng lành.

Sau khi vào chiến trường, ông vẫn đều đặn viết thư về cho vợ từ mặt trận. Trong các lá thư không đề ngày, có lá thư ông viết:“Anh sẽ không bao giờ phụ công em, công gia đình, công của Đảng đã săn sóc, lo lắng và tin cậy ở anh. Anh sẵn sàng hy sinh chiến đấu và công tác dù khó khăn gian khổ, ác liệt thế nào cũng quyết giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với dân và chung thuỷ với em”.

Như để động viên vợ hẹn ngày trở về, cuối thư ông viết:“Anh đã sẵn sàng mọi việc và chỉ còn chờ lệnh, các đồng chí của anh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh. Chúng ta sẽ gặp nhau trong khúc khải hoàn ca thắng trận, trong niềm vui lớn của cả dân tộc ta… Em của anh yêu thương. Chúng ta hãy can đảm tiến lên theo tiếng gọi của Tổ quốc, của Bác Hồ…”.

Lá thư cuối cùng đề ngày 19/11/1967, viết nhân ngày u Ngân vào Đảng, ông nhắn nhủ:“Là đảng viên chưa đủ mà phải làm người đảng viên tốt của Đảng... Mừng Đại hội Anh hùng miền Nam lần thứ 2, anh gửi Ngân lời chúc mừng ba đảm đang - chúc cu Phương, Phương Đông và Hồng Dung chóng lớn, chúng mình cùng thơm nhau cái nào”. 5 ngày sau, ngày 23/11/1967, ông hy sinh tại mặt trận phía tây Thừa Thiên Huế.

Giấy báo tử về muộn tới 3 năm, mãi đến năm 1970 gia đình mới nhận được. Suốt thời gian đó, để mẹ chồng yên lòng, u Ngân lấy những lá thư cũ ra đọc lại cho cụ nghe, rồi tự thêm vào những tin tức mới để cụ tin con trai vẫn còn sống ngoài mặt trận. Từng ở trong quân ngũ, bản thân u Ngân cũng lờ mờ đoán ra điều xấu nhất, nhưng không dám nói với ai.

Trọn nghĩa vẹn tình

Ngày nhận giấy báo tử, bà bàng hoàng, chỉ biết tự hỏi làm sao một mình nuôi nổi ba đứa con. Phòng Thông tấn Báo chí thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị và Thông tấn xã Việt Nam, nơi ông từng công tác, đã chăm lo, hỗ trợ gia đình suốt nhiều năm sau đó. Nhờ đồng đội cũ của chồng, nhà báo Phan Khắc Hải, nguyên Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân, vào Thừa Thiên Huế tìm được thông tin và viết thư báo về, bà mới tìm ra phần mộ của ông được chôn cất tại huyện Thừa Thiên Huế (cũ) và đưa được hài cốt ông về quê hương.

Mẹ chồng bà, cụ Hoàng Thị Duyên, quê Ý Yên, Nam Định (cũ), qua đời năm 1983, thọ 86 tuổi. Năm 2015, sau 32 năm cụ mất, Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho cụ. Trước đó, bố chồng bà liệt sĩ Thẩm Đức Bách - đội viên du kích, hy sinh năm 1948 trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Hiện tại, ba liệt sĩ và Mẹ Việt Nam anh hùng của gia đình đều được quy tập về cùng Nghĩa trang liệt sĩ tại Gia Lâm. U Ngân xúc động nói:“Vậy là ước nguyện cuối đời của u đã thành hiện thực. Mẹ chồng đã được nằm cạnh chồng, con trai và con rể trong nghĩa trang liệt sĩ huyện”. Bố đẻ của u Ngân, liệt sĩ Phương Đình Khiêm, hiện an táng tại Nghĩa trang Kim Sơn, vùng Keo, Sủi, huyện Gia Lâm cũ.

Suốt mấy chục năm sau ngày chồng hy sinh, u Ngân vẫn giữ thói quen viết thư cho ông, đặt lên bàn thờ, thắp hương rồi mới hóa. Trong lá thư viết lúc gần 3 giờ sáng ngày 24/10/2005, u Ngân viết:“Nhận tin báo tử của anh em như từ trên tầng 5 rơi xuống. Sau những năm ấy em suy nghĩ và nhiều lần bị ốm, có thời gian người chỉ còn có 42 kg. Nỗi đau đớn đã theo em suốt cả một cuộc đời”.

Những lá thư ấy, cùng thư ông gửi bà thời chiến, sau này được gia đình tập hợp, in thành cuốn sách mang tên“Liệt sĩ vẫn nhận được thư”. Từ ngày tìm được hài cốt chồng và đóng tập sách xong, bà không viết thư nữa, chỉ thỉnh thoảng các con cháu lại giở ra đọc.

Biết Nhà nước đang triển khai đợt cao điểm 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, u Ngân xúc động nói:"Bố đẻ, bố chồng, chồng, anh rể chồng đều là liệt sĩ, bản thân u từng trải qua hành trình đi tìm mộ người thân nên hiểu rõ niềm đau của những gia đình chưa tìm được. Mỗi lần xem truyền hình thấy lực lượng chức năng cẩn trọng cào từng lớp đất, nâng niu từng mẩu xương cốt, u lại trào nước mắt”.

Nhìn lại cả cuộc đời, u Ngân nói, u đã làm trọn hai việc lớn nhất: phụng dưỡng mẹ chồng chu đáo đến lúc cụ qua đời và cất bốc, quy tập hài cốt chồng cùng mẹ chồng về nơi an nghỉ trang nghiêm. Lời dặn bên triền đê sông Hồng năm nào,“bằng giá nào em cũng phải chăm nuôi mẹ đến cùng”, đã được u Ngân thực hiện trọn nghĩa, vẹn tình. U còn khoe với tôi trước khi tôi ra về:"Năm nay u tròn 60 năm tuổi Đảng, Đảng đã cho u mùa xuân, cho u một tình yêu đẹp đẽ. Cho đến tận bây giờ, u vẫn luôn nhớ và yêu thương người bạn đời da diết...".

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những hy sinh của các anh hùng liệt sĩ vẫn còn in đậm trong ký ức bao gia đình Việt Nam. Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, gác lại tình riêng, mang theo lý tưởng và niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Máu xương của các anh đã hoà vào từng tấc đất quê hương, đổi lấy hoà bình cho thế hệ hôm nay. Phía sau mỗi tấm bằng Tổ quốc ghi công là một câu chuyện về lòng thuỷ chung, sự chờ đợi và nỗi đau âm thầm của người ở lại. Cựu chiến binh Phương Bích Ngân là một trong những người phụ nữ như thế!
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.