Tốc độ giải ngân đã có chuyển biến
Đến hết tháng 8/2026, giải ngân vốn đầu tư công đạt 49,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 3,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Dù tiến độ đã cải thiện, hơn một nửa kế hoạch vốn vẫn phải thực hiện trong những tháng cuối năm, đặt ra áp lực về khả năng hấp thụ vốn và hiệu quả đầu tư.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương trao đổi với chuyên gia kinh tế PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam:
- Đến hết tháng 8/2026, giải ngân đạt 49,8% kế hoạch, tăng 3,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Ông đánh giá thế nào về tốc độ cải thiện này?
PGS.TS Ngô Trí Long:Tôi cho rằng đây là tín hiệu tích cực nhưng chưa thể coi là mức an toàn. Đến hết tháng 8/2026, cả nước đã giải ngân khoảng 509,6 nghìn tỷ đồng, đạt 49,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cùng kỳ năm 2025 khoảng 3,5 điểm phần trăm và hơn khoảng 100,4 nghìn tỷ đồng về giá trị tuyệt đối. Nếu loại trừ khoảng 32,5 nghìn tỷ đồng ngân sách địa phương tiết kiệm để dự kiến bố trí cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và khoảng 8,37 nghìn tỷ đồng vốn mới giao bổ sung trong tháng 8, tỷ lệ giải ngân thực tế trên phần vốn có điều kiện triển khai đạt khoảng 51,9%.
Điều đó cho thấy tiến độ đã chuyển biến rõ rệt so với những tháng đầu năm. Tuy nhiên, nhìn từ yêu cầu điều hành chính sách, 49,8% sau 8 tháng vẫn có nghĩa hơn một nửa kế hoạch vốn phải hoàn thành trong thời gian còn lại. Vì vậy, tôi đánh giá đây mới là sự cải thiện về xu hướng, chưa phải kết quả cho phép chúng ta chủ quan.
Đáng lưu ý hơn là tốc độ giữa các khu vực chưa đồng đều. Đến cuối tháng 8, vốn ngân sách trung ương mới giải ngân khoảng 37,7%, trong khi vốn ngân sách địa phương đạt khoảng 55,5%. Như vậy, bài toán hiện nay không chỉ là nâng tỷ lệ bình quân cả nước mà phải xử lý những bộ, địa phương và dự án đang chậm đáng kể so với mặt bằng chung.
- Tốc độ giải ngân tháng 8 đạt khoảng 1,23 lần tháng 7. Theo ông, động lực nào đang giúp tiến độ được đẩy nhanh?
PGS.TS Ngô Trí Long:Theo tôi, có ba động lực chính.
Thứ nhất,sức ép điều hành đã mạnh và cụ thể hơn. Chính phủ xác định giải ngân đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm, gắn kết quả giải ngân với trách nhiệm của người đứng đầu. Việc triển khai cơ chế chấm điểm các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về kết quả giải ngân cũng tạo áp lực buộc các đơn vị phải theo dõi từng dự án thay vì chỉ nhìn vào tỷ lệ tổng thể.
Thứ hai,sau hơn nửa năm triển khai, nhiều dự án đã vượt qua giai đoạn chuẩn bị, bắt đầu có khối lượng xây lắp đủ điều kiện nghiệm thu, thanh toán. Vì vậy dòng vốn thường tăng nhanh hơn từ quý III. Tháng 8, tốc độ giải ngân đạt khoảng 1,23 lần tháng 7, phản ánh rõ yếu tố này.
Thứ ba,việc tháo gỡ các dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài đã có chuyển biến. Đến hết tháng 8, Chính phủ cho biết đã xử lý dứt điểm 2.699/4.899 dự án tồn đọng, đồng thời thúc đẩy tiến độ các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm quốc gia. Đây là nguồn tạo thêm khối lượng thực hiện và khả năng hấp thụ vốn.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một tháng tăng mạnh chưa đủ chứng minh xu thế đã bền vững. Quan trọng là tháng 9, tháng 10 và tháng 11 có duy trì được nhịp này hay không.
- Khi 50,2% kế hoạch vốn vẫn cần thực hiện trong những tháng cuối năm, áp lực lớn nhất đối với giải ngân hiện nay là gì?
PGS.TS Ngô Trí Long:Áp lực lớn nhất là phải giải ngân một khối lượng vốn rất lớn trong thời gian ngắn, trong khi các điểm nghẽn còn lại lại chủ yếu là những điểm nghẽn khó. Với quy mô kế hoạch khoảng trên 1 triệu tỷ đồng, việc mới hoàn thành 49,8% đồng nghĩa về mặt tương đối còn hơn 500 nghìn tỷ đồng cần tiếp tục được đưa vào nền kinh tế. Trong khi đó, đây không còn chủ yếu là những thủ tục đơn giản mà thường liên quan đến giải phóng mặt bằng, giá đất và bồi thường, tái định cư, nguồn vật liệu xây dựng, di dời hạ tầng kỹ thuật, điều chỉnh hợp đồng và năng lực tài chính của nhà thầu.
Đáng chú ý, đến cuối tháng 8 vẫn còn khoảng 27.511,9 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương chưa được phân bổ chi tiết tại 6 bộ, ngành và 25 địa phương. Đến ngày 3/9, mặc dù tỷ lệ giải ngân toàn quốc đã nhích lên 50,2%, vẫn còn 24 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung.
Vì vậy, tôi cho rằng nguy cơ lớn nhất là dồn giải ngân vào những tuần cuối năm. Khi đó dễ phát sinh hai vấn đề: hoặc không giải ngân hết vốn; hoặc vì áp lực thành tích mà quá chú trọng tốc độ, dẫn đến giảm yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và kỷ luật đầu tư.
Chúng ta phải tránh cả hai cực: Không để vốn nằm chờ dự án, nhưng cũng không được giải ngân bằng mọi giá.
Gỡ điểm nghẽn để hấp thụ vốn
- Theo ông, cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn nào trước để vừa đẩy nhanh tiến độ, vừa bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn?
PGS.TS Ngô Trí Long:Nếu phải xác định thứ tự ưu tiên, tôi cho rằng cần tập trung trước hết vào giải phóng mặt bằng và khả năng triển khai thực tế của từng dự án.
Giải phóng mặt bằng vẫn là “đường găng” của rất nhiều dự án. Những vướng mắc hiện nay liên quan đến xác định giá đất, nguồn gốc pháp lý của đất, phương án bồi thường, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật. Không có mặt bằng thì dù vốn đã bố trí, nhà thầu và vật liệu đã sẵn sàng cũng không thể tạo ra khối lượng để thanh toán. Chính phủ cũng đang yêu cầu tập trung tháo gỡ các vướng mắc về mặt bằng, nguyên vật liệu và thủ tục đầu tư.
Nhưng về quản trị chính sách, tôi cho rằng phải làm thêm một việc rất quan trọng: Phân loại ngay từng dự án theo khả năng giải ngân.
Dự án nào đủ mặt bằng, đủ thủ tục, có khả năng tạo khối lượng thì phải tập trung vốn, nhân lực và tổ chức thi công tăng tốc. Dự án nào vướng nhưng có thể tháo gỡ trong thời gian ngắn thì xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý. Còn dự án nào chắc chắn không thể giải ngân thì phải kiên quyết điều chuyển vốn sang dự án có khả năng hấp thụ tốt hơn, không để xảy ra tình trạng “vốn chờ dự án”.
Cách làm này vừa nâng tỷ lệ giải ngân, vừa bảo đảm đồng vốn ngân sách đi vào những công trình thực sự có khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội.
- Nếu phải đưa ra một khuyến nghị quan trọng nhất cho chặng cuối năm, ông sẽ nhấn mạnh giải pháp nào?
PGS.TS Ngô Trí Long:Khuyến nghị quan trọng nhất của tôi là chuyển từ quản lý giải ngân theo tỷ lệ chung sang quản trị tiến độ đến từng dự án, từng điểm nghẽn và từng người chịu trách nhiệm.
Ở giai đoạn nước rút, không thể chỉ yêu cầu chung chung rằng “đẩy nhanh giải ngân”. Mỗi bộ, ngành, địa phương phải lập một bảng tiến độ cụ thể cho từng dự án, trong đó xác định rõ: vốn còn bao nhiêu; khối lượng có thể thực hiện bao nhiêu; mặt bằng vướng ở đâu; thủ tục nào chưa hoàn thành; ai chịu trách nhiệm; thời hạn giải quyết là ngày nào.
Sau đó phải thực hiện nguyên tắc rất rõ: Dự án làm được thì tập trung nguồn lực để làm nhanh; dự án không làm được thì điều chuyển vốn sớm. Bộ Tài chính cũng đã nhấn mạnh yêu cầu kịp thời điều chỉnh vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.
Nhưng tôi muốn nhấn mạnh thêm một điểm: Mục tiêu cuối cùng của đầu tư công không phải là giải ngân được bao nhiêu tiền, mà là tạo ra được bao nhiêu công trình có chất lượng, bao nhiêu năng lực hạ tầng mới và bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Xin cảm ơn ông!
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, chặng cuối năm 2026 cần thực hiện đồng thời hai yêu cầu: Tăng tốc nhưng không hạ chuẩn; giải ngân nhanh nhưng phải đúng dự án, đúng khối lượng, đúng pháp luật và có hiệu quả. Nếu làm được như vậy, hơn 500 nghìn tỷ đồng vốn còn lại không chỉ giúp hoàn thành kế hoạch ngân sách mà còn trở thành một động lực thực chất cho tăng trưởng cuối năm 2026 và tạo năng lực sản xuất cho những năm tiếp theo.