Thứ sáu, 02/10/2026

Nhu cầu vốn lớn đặt ra yêu cầu mở rộng dòng vốn quốc tế

Nhu cầu vốn trung, dài hạn giai đoạn 2026–2030 rất lớn, trong khi ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu. Vì vậy, mở rộng huy động từ thị trường vốn quốc tế có thể bổ sung nguồn lực cho các dự án hạ tầng, năng lượng, logistics, công nghệ cao và chuyển đổi xanh.

Nhu cầu vốn lớn đặt ra yêu cầu mở rộng dòng vốn quốc tế

Nhu cầu vốn vượt khả năng của một kênh

Theo dự báo của Saigon Ratings, giai đoạn 2026–2030 và tầm nhìn đến năm 2045, nhu cầu vốn đầu tư phát triển trung, dài hạn đối với các lĩnh vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam như hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, công nghệ cao, đô thị, hạ tầng số và chuyển đổi xanh là rất lớn.

Theo số liệu ước tính của Bộ Tài chính, nhu cầu nguồn vốn đầu tư phát triển trung, dài hạn của nền kinh tế trong giai đoạn 2026–2030 tối thiểu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 1.400 tỷ USD và khoảng 40% tổng GDP quốc gia.

Quy mô này cho thấy yêu cầu phát triển thị trường vốn không còn chỉ là giải pháp bổ trợ cho tín dụng ngân hàng, mà trở thành một trong những vấn đề quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn 2026–2030 và định hướng phát triển đến năm 2045.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu đầu tư hạ tầng của Việt Nam vào khoảng 30 tỷ USD/năm, trong khi khoảng thiếu hụt tích lũy cho giai đoạn 2019–2040 có thể lên tới 94 tỷ USD. Trong giai đoạn 2019–2023, nền kinh tế huy động bình quân khoảng 53,5 tỷ USD/ năm qua khu vực ngân hàng, trong khi vốn qua thị trường cổ phiếu chỉ đạt khoảng 2,9 tỷ USD/năm.

Những con số này cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn đang giữ vai trò rất lớn trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong đó có cả những nhu cầu vốn dài hạn.

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Trong 8 tháng, hệ thống ngân hàng đã bổ sung khoảng 2,2 triệu tỷ đồng vốn cho nền kinh tế.

Tín dụng tiếp tục được định hướng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên như doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp, nông thôn cùng các động lực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.

Tuy nhiên, đến ngày 28/8, tổng tiền gửi của dân cư và tổ chức đạt 19 triệu tỷ đồng.

Khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động vốn tạo thêm áp lực lên chi phí vốn, thanh khoản và khả năng cân đối kỳ hạn của hệ thống ngân hàng, đặc biệt khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hạ tầng, công nghệ, bất động sản và các dự án quy mô lớn tiếp tục tăng.

Cần một cấu trúc vốn cân bằng hơn

Về nguyên tắc, ngân hàng thương mại chủ yếu huy động nguồn vốn có kỳ hạn ngắn, trung hạn, trong khi nhiều dự án trọng điểm như đường cao tốc, đường sắt, cảng biển, năng lượng hay hạ tầng đô thị có vòng đời từ 10–20 năm, thậm chí dài hơn.

Nếu nền kinh tế tiếp tục dựa quá lớn vào tín dụng ngân hàng để tài trợ cho các nhu cầu vốn dài hạn, bài toán chênh lệch kỳ hạn sẽ tiếp tục được đặt ra. Đồng thời, dư địa tín dụng dành cho khu vực sản xuất, kinh doanh cũng chịu tác động khi một phần nguồn vốn phải đáp ứng những dự án có thời gian thu hồi vốn dài.

Theo ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Phát Thịnh Group và Saigon Ratings, mục tiêu trung và dài hạn của Việt Nam không phải thay thế nguồn vốn trong nước bằng dòng vốn ngoại, mà là hình thành một cấu trúc tài chính cân bằng hơn.

Theo đó, ngân sách và ngân hàng vẫn giữ vai trò nền tảng; trong khi thị trường trái phiếu, vốn cổ phần, đầu tư PPP, quỹ đầu tư hạ tầng và dòng vốn quốc tế cùng tham gia đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.

Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026 cũng cho thấy Chính phủ có nhiều kênh huy động khác nhau. Theo số liệu của Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại, kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm tối đa 583.700 tỷ đồng để bù đắp bội chi ngân sách, không quá 376.005 tỷ đồng trả nợ gốc và khoảng 10.092 tỷ đồng cho vay lại.

Nguồn huy động bao gồm phát hành trái phiếu Chính phủ, ODA và vay ưu đãi, phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế và các nguồn hợp pháp khác. Riêng kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước dự kiến khoảng 500.000 tỷ đồng.

Việc kế hoạch vay có tính đến công cụ trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế cho thấy đây là một trong những kênh có thể được sử dụng trong cấu trúc huy động vốn của Chính phủ. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Chính phủ đã quyết định hoặc hoàn tất một đợt phát hành quốc tế mới.

Điểm quan trọng hơn, theo Saigon Ratings, Việt Nam cần mở rộng các kênh dẫn vốn để giảm sự phụ thuộc quá lớn vào một nguồn vốn duy nhất. Trong cấu trúc đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nước vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục xử lý. Kỳ hạn trái phiếu phổ biến chưa dài, thường khoảng 2–5 năm; quy mô mỗi thương vụ còn hạn chế, trong khi cơ sở nhà đầu tư tổ chức chưa đủ lớn.

Niềm tin và thanh khoản thị trường cũng là những yếu tố cần được củng cố. Nhà đầu tư cá nhân phải cân nhắc trái phiếu với nhiều kênh khác như vàng, ngoại tệ, bất động sản hay tiền gửi, trong khi sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức còn hạn chế.

Huy động vốn quốc tế gắn với tái cân bằng nguồn vốn

Trong bối cảnh đó, việc khơi thông nguồn vốn trung, dài hạn trên thị trường trái phiếu quốc tế có ý nghĩa không chỉ ở số vốn huy động được.

Theo ông Phùng Xuân Minh, đối với Việt Nam, việc xây dựng khả năng huy động vốn trên thị trường quốc tế còn gắn với mục tiêu thiết lập lại mức lãi suất tham chiếu quốc gia trên thị trường tài chính toàn cầu.

Một trái phiếu Chính phủ quốc tế được phát hành và giao dịch trên thị trường có thể tạo thêm 1 điểm tham chiếu để nhà đầu tư đánh giá rủi ro Việt Nam. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp và dự án của Việt Nam khi tiếp cận nguồn vốn quốc tế có thể có thêm cơ sở tham chiếu trong quá trình định giá.

Đây cũng là lý do việc Việt Nam có thể quay lại thị trường trái phiếu quốc tế, nếu các điều kiện phù hợp, cần được nhìn nhận rộng hơn một thương vụ huy động vốn riêng lẻ.

Tuy nhiên, nguồn vốn quốc tế không phải giải pháp thay thế cho các kênh trong nước. Chi phí phát hành, yêu cầu xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, quản lý dòng tiền và rủi ro tỷ giá đều cao hơn so với một số hình thức huy động vốn thông thường trong nước.

Đặc biệt, với những dự án có doanh thu chủ yếu bằng VND nhưng nghĩa vụ nợ bằng USD, rủi ro tỷ giá cần được tính toán ngay từ khâu xây dựng phương án tài chính.

Vì vậy, việc mở rộng kênh vốn quốc tế cần được đặt trong tổng thể phát triển thị trường vốn. Ngân hàng tiếp tục cung ứng vốn lưu động và vốn cho các nhu cầu phù hợp; thị trường cổ phiếu bổ sung vốn chủ sở hữu; trái phiếu trong nước đáp ứng một phần nhu cầu vốn trung, dài hạn; còn các kênh quốc tế mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ và nhà đầu tư toàn cầu.

Với nhu cầu vốn lên tới hàng chục triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026–2030, vấn đề đặt ra không đơn thuần là tìm thêm một nguồn vốn mới. Quan trọng hơn là hình thành một cấu trúc trong đó nhiều kênh cùng chia sẻ nhu cầu tài trợ cho quá trình phát triển.

Theo hướng này, dòng vốn quốc tế có thể trở thành một phần của cấu trúc vốn dài hạn của Việt Nam, thay vì được xem như nguồn vốn thay thế cho tín dụng ngân hàng hay thị trường vốn trong nước.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.