Chủ nhật, 14/06/2026

Ngoại giao kinh tế: Khơi thông nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới

Trong lĩnh vực kinh tế, tinh thần kiến tạo mới đòi hỏi đối ngoại phải mở rộng không gian phát triển, tạo thêm thị trường và tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn đầu tư.

Ngoại giao kinh tế: Khơi thông nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới

Tiếp nối Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước; đồng thời mở ra cách tiếp cận chủ động hơn trong hội nhập, ngoại giao kinh tế và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Xoay quanh nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Vinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Từ hội nhập đến kiến tạo luật chơi

- Thưa ông, Nghị quyết số 06-NQ/TW được ban hành nhằm triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết này trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt?

Ông Phạm Quang Vinh:Đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, hướng tới các mốc 2030 và 2045. Mọi hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Theo đó, đối ngoại có hai nhiệm vụ lớn. Trước hết là tiếp tục củng cố, duy trì và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Tiếp đó là tạo sự hỗ trợ tích cực cho các đột phá phát triển của Việt Nam theo hướng chất lượng hơn, bền vững hơn và phù hợp hơn với lợi ích quốc gia.

Việt Nam đã đi qua chặng đường dài trong hội nhập quốc tế, từ tham gia vào công việc chung, đồng hành cùng các nước đến giai đoạn đủ năng lực, đủ vị thế để cùng kiến tạo. Đó là kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển; kiến tạo cơ hội hợp tác mới và tham gia xây dựng những luật chơi chung phù hợp với lợi ích của Việt Nam cũng như lợi ích của cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế, tinh thần kiến tạo mới đòi hỏi đối ngoại phải mở rộng không gian phát triển, tạo thêm thị trường và tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn đầu tư. Việt Nam hiện cần những dòng vốn chất lượng cao, bền vững, gắn với chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và công nghệ.

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, hội nhập kinh tế phải góp phần củng cố chuỗi cung ứng bền vững và nâng cao năng lực ứng phó trước các "cơn gió ngược" của thương mại toàn cầu. Trên tinh thần Nghị quyết 59 và Nghị quyết 06, đối ngoại cần chủ động hơn trong kiến tạo cơ hội, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước.

- Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển từ "hội nhập thị trường" sang "kiến tạo thị trường", từ "tham gia luật chơi" sang "góp phần định hình luật chơi". Với kinh nghiệm nhiều năm làm đối ngoại đa phương và quan hệ với các nước lớn, ông cho rằng Việt Nam cần làm gì để không bị động trước các luật chơi mới về thương mại số, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu, AI và chuỗi cung ứng?

Ông Phạm Quang Vinh:Ở đây có hai câu chuyện, trước hết là câu chuyện kế thừa và tiếp nối. Không phải lâu nay chúng ta không kiến tạo thị trường, không kiến tạo luật chơi, nhưng trước đây, do năng lực và vị thế của Việt Nam còn ở mức nhất định nên chúng ta chưa đủ điều kiện để dẫn dắt những câu chuyện thuận lợi hơn cho Việt Nam và cho hợp tác chung của thế giới. Hiện nay, Việt Nam phải chủ động hơn, làm mạnh hơn và chất lượng hơn.

Chủ động kiến tạo thị trường và tạo thêm thị trường mới bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Ở đây cần nhấn mạnh là tạo ra thị trường mới chứ không đơn thuần là tìm ra thị trường mới. Chúng ta đã khai thác thị trường châu Á - Thái Bình Dương, châu Âu, Bắc Mỹ. Gần đây, Việt Nam mở rộng thêm sang Mỹ-Latinh, Trung Đông và một phần châu Phi. Những hướng này cần tiếp tục được làm nhiều hơn.

Điều quan trọng hơn, theo tinh thần chỉ đạo mới, bên cạnh mở rộng theo chiều rộng phải tạo ra những phân khúc cao hơn trong chuỗi cung ứng để Việt Nam có thể tham gia sâu hơn. Chúng ta hiện đang thực thi 17 FTA đang các nền kinh tế lớn trên thế giới, chiếm 90% GDP toàn cầu, đây là nền tảng rất quan trọng.

Vấn đề là khai thác như thế nào để Việt Nam tham gia ở phân khúc cao hơn, có những mặt hàng chất lượng hơn, sử dụng tốt hơn lợi thế cạnh tranh để thâm nhập các thị trường có tiêu chuẩn cao như châu Âu, Bắc Mỹ hay các nước phát triển ở châu Á. Đây là câu chuyện Việt Nam còn phải làm nhiều chứ không thể chỉ tận dụng ưu đãi giảm thuế. Rõ ràng, chúng ta phải dựa vào chất lượng, tính bền vững và lợi thế cạnh tranh tổng thể thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá để có thể thâm nhập sâu hơn vào các thị trường.

Điểm thứ hai, ngay trong nước cũng là một thị trường rất quan trọng. Thị trường trong nước thời gian tới cần tạo ra được các dòng đầu tư nước ngoài có chất lượng cao hơn, từ đó hình thành hệ sinh thái của các chuỗi cung ứng và dịch vụ hậu cần đi cùng với nhau. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể là đầu tàu dẫn dắt các ngành sản xuất, các ngành giá trị và các ngành công nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, nội lực của doanh nghiệp trong nước phải trở thành một phần của hệ sinh thái đó. Doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa và các điều kiện hỗ trợ để sản phẩm làm ra vừa mang tên doanh nghiệp nước ngoài, vừa mang dấu ấn của Việt Nam khi xuất khẩu ra thế giới.

Trong thị trường trong nước, một vấn đề nữa là nâng cao năng lực của doanh nghiệp phải đi cùng với nâng cao sức tiêu thụ của xã hội Việt Nam. Điều đó sẽ tạo ra một không gian phát triển lớn hơn ngay trong đất nước 100 triệu dân. Nếu 100 triệu dân chỉ tiêu dùng ở mức rất thấp thì thị trường vẫn nhỏ, nhưng nếu sức tiêu dùng tăng lên nhiều lần, quy mô thị trường sẽ được nhân lên tương ứng.

Vì vậy, câu chuyện đặt ra là Việt Nam phải chủ động khai thác cả bên trong và bên ngoài ở phân khúc chất lượng cao hơn, bền vững hơn. Đồng thời, trong quá trình đổi mới, hội nhập phải đi cùng với tăng cường năng lực nội sinh, nâng cao sức sản xuất của Việt Nam.

Hiện nay, chúng ta đang tập trung rất nhiều vào các nghị quyết mới, tạo ra những động lực tăng trưởng mới ngay trong chính đất nước Việt Nam. Điều đó giúp Việt Nam vừa hội nhập quốc tế sâu hơn, vừa nâng cao năng lực hội nhập của mình trong giai đoạn phát triển mới.

Tăng sức chống chịu cho nền kinh tế

- An ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh công nghệ đang ngày càng gắn với đối ngoại. Theo ông, ngoại giao kinh tế cần được thiết kế ra sao để phục vụ đồng thời cả phát triển và tự chủ chiến lược?

Ông Phạm Quang Vinh:Đối ngoại hiện nay phải bắt kịp với nhiệm vụ phát triển của đất nước. Đồng thời, đối ngoại phải bắt kịp với những yêu cầu đổi mới về kinh tế ngay trong lòng đất nước Việt Nam. Bắt kịp ở đây có nghĩa là chúng ta phải biết trong nước đang cần gì, biết những yêu cầu phát triển từ nay đến năm 2030, 2045 cần những gì. Từ đó, đối ngoại phải tìm kiếm các cơ hội hợp tác bên ngoài, tìm kiếm các tiềm năng từ bên ngoài để kết nối với nhu cầu trong nước, hình thành những dự án hợp tác cụ thể và thực chất.

Trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, ngày 11/6 - PV) có một ý rất hay: Chúng ta phải tận dụng, phát huy lợi thế thuận lợi trong quan hệ chính trị với các nước để chuyển hóa thành những dự án hợp tác có lợi cho cả hai bên một cách thực chất và hiệu quả.

Hiện nay, Việt Nam đã có khuôn khổ quan hệ đối tác với hơn 40 nước, trong đó có 15 nước là đối tác chiến lược toàn diện, các khuôn khổ chính trị đó được chuyển hóa thành các dự án hợp tác cụ thể thì sẽ tạo ra giá trị rất lớn. Quan trọng hơn, những dự án hợp tác ấy cần phục vụ trực tiếp cho các trọng tâm đột phá của Việt Nam về kinh tế khi bước vào kỷ nguyên mới, như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Nếu làm được điều này, hiệu quả của đối ngoại sẽ được nâng lên một tầm cao mới.

Vì vậy, năng lực của đối ngoại trong giai đoạn tới phải thể hiện ở khả năng kết nối nhu cầu phát triển trong nước với nguồn lực, thị trường, công nghệ và cơ hội hợp tác từ bên ngoài. Đối ngoại không chỉ dừng ở việc mở rộng quan hệ mà phải góp phần tạo ra những kết quả cụ thể cho phát triển.

Để đối ngoại làm được điều đó thì không thể chỉ là nhiệm vụ của ngành ngoại giao, đây phải là sự phối hợp tổng thể giữa các bộ, ngành, giữa các cơ quan làm chính trị, kinh tế và quản trị trong nước. Các lực lượng này phải phối hợp chặt chẽ để bảo đảm sự thông suốt giữa bên trong và bên ngoài. Có như vậy đối ngoại mới thực sự phục vụ hiệu quả các yêu cầu phát triển mới của đất nước.

- Việt Nam đang có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Theo ông, cần làm gì để Việt Nam vượt lên vai trò điểm đến của dòng vốn dịch chuyển, từng bước trở thành mắt xích có giá trị gia tăng cao trong các lĩnh vực công nghiệp, logistics, bán dẫn và công nghệ xanh?

Ông Phạm Quang Vinh:Chúng ta phải nhìn nhận câu chuyện dịch chuyển chuỗi cung ứng và dịch chuyển các luồng đầu tư hiện nay đang đan xen hai đặc điểm. Lâu nay, các luồng đầu tư thường dịch chuyển đến nơi nào có lợi nhuận cao nhất, điều kiện thuận lợi nhất, nhà đầu tư sẽ tìm đến những địa điểm có khả năng đem lại hiệu quả tốt hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị gia tăng, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng có thể tạo ra những rủi ro lớn. Vì vậy, một câu chuyện thứ hai đang nổi lên rất rõ, đó là an ninh kinh tế, kinh tế hiện nay đã trở thành vấn đề gắn với an ninh quốc gia. Các nhà đầu tư có xu hướng tìm đến những quốc gia được coi là tin cậy, là bạn bè, đồng thời có khả năng giúp họ phân tán rủi ro thay vì tập trung quá nhiều vào một địa điểm.

Do đó, Việt Nam phải tranh thủ được cả hai xu hướng này. Muốn làm được điều đótrước hếtchúng ta phải tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, nhà kinh doanh và doanh nghiệp.Thứ hai, Việt Nam phải tăng cường nội lực của nền kinh tế để có sức hấp thụ tốt hơn đối với các luồng đầu tư. Nếu nội lực yếu, chúng ta sẽ khó tận dụng được cơ hội từ dòng vốn dịch chuyển, nhất là những dòng vốn có chất lượng cao.Thứ ba,phải chuyển đổi thực chất để có thể đón đầu những luồng đầu tư mới, chất lượng cao hơn, dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ. Đây cũng là định hướng đã được Đảng và Nhà nước chỉ rõ.

Để thực hiện được yêu cầu này, cần tập trung vào ba nhóm vấn đề.

Một làpháp luật và chính sách phải thuận lợi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hệ thống thể chế phải đủ thông thoáng, đủ linh hoạt và đủ khả năng dự báo để khuyến khích các mô hình phát triển mới.

Hai làphải bảo đảm hạ tầng cho công nghệ và cho phát triển. Hạ tầng ở đây bao gồm nhiều loại: hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng giao thông và các nền tảng thiết yếu khác... những hạ tầng này phải đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế.

Ba làphải chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với giai đoạn mới. Khi nền kinh tế chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo và công nghệ, yêu cầu đối với người lao động cũng rất khác. Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lợi thế lao động giá rẻ như trước đây, mà phải xây dựng được lực lượng lao động có kỹ năng, có khả năng thích ứng và có năng lực tham gia vào các chuỗi giá trị cao hơn.

Năm 2025, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai gần 500 hoạt động ngoại giao kinh tế, xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch; hỗ trợ các địa phương tổ chức hơn 150 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư ở trong và ngoài nước; hỗ trợ các tỉnh, thành phố ký kết khoảng 100 thoả thuận với các đối tác quốc tế.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.