Ngày 19/1/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 103/QĐ-BCT thành lập Ban Chỉ đạo phát triển văn hóa công vụ ngành Công Thương, đánh dấu bước tiến mới trong triển khai Đề án Văn hóa công vụ của Chính phủ.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, xây dựng văn hóa công vụ không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức, tác phong của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mà còn trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với ông Nguyễn Cảnh Bình - Chủ tịch HĐQT Alpha Books và Omega+, Viện trưởng Viện Lãnh đạo ABG, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất bản Việt Nam.
Ông Nguyễn Cảnh Bình - Chủ tịch HĐQT Alpha Books và Omega+, Viện trưởng Viện Lãnh đạo ABG, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất bản Việt Nam. Ảnh: NVCC
Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ người dân tốt hơn
- Theo ông, việc xây dựng văn hóa công vụ có ý nghĩa như thế nào trong việc bảo đảm rằng công nghệ được sử dụng để nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp thay vì chỉ đơn thuần là thay đổi công cụ làm việc?
Ông Nguyễn Cảnh Bình:Theo tôi, cần nhìn vấn đề này trong một bức tranh tổng thể hơn.
Việc ứng dụng công nghệ và xây dựng văn hóa công vụ không phải là hai quá trình tách rời mà có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Nếu được triển khai đồng bộ, hai yếu tố này sẽ góp phần giảm tải đáng kể khối lượng công việc cho các cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Theo tôi, quá trình này phải đáp ứng đồng thời ba nhóm yêu cầu quan trọng.
Thứ nhấtlà yêu cầu từ người dân và doanh nghiệp. Nhu cầu của xã hội hiện nay ngày càng đa dạng, nhiều hơn và phức tạp hơn trước. Người dân và doanh nghiệp mong muốn các thủ tục hành chính được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch. Chính điều đó buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải chủ động ứng dụng công nghệ, sử dụng các phần mềm và công cụ hiện đại để đáp ứng tốt hơn những yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn.
Thứ hailà yêu cầu từ cấp trên và từ nhiệm vụ phát triển đất nước. Các bộ, ngành, địa phương đều phải thực hiện những mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ được giao. Trong bối cảnh đất nước đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao hơn, phát triển nhanh hơn và hiệu quả hơn, áp lực đối với hệ thống quản lý nhà nước cũng ngày càng lớn. Vì vậy, ứng dụng công nghệ và xây dựng văn hóa công vụ hiện đại là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ.
Thứ balà nhu cầu tự hoàn thiện của chính đội ngũ cán bộ, công chức. Theo tôi, văn hóa công vụ và trình độ ứng dụng công nghệ phải phát triển tương xứng với tốc độ phát triển của thời đại. Nếu khu vực công chuyển đổi chậm hơn khu vực doanh nghiệp thì áp lực sẽ ngày càng dồn lên các cơ quan nhà nước, khiến khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội trở nên khó khăn hơn.
Thực tế hiện nay cho thấy áp lực quản lý đang ngày càng gia tăng. Từ yêu cầu phát triển mới, các mục tiêu tăng trưởng cao hơn cho đến khối lượng công việc ngày càng lớn đều tạo ra sức ép đáng kể đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở tất cả các cấp.
Chính vì vậy, muốn phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn thì bản thân đội ngũ công chức cũng phải liên tục nâng cao năng lực, chủ động học hỏi, làm chủ công nghệ và sử dụng thành thạo các công cụ mới trong quá trình thực thi công vụ.
Trong quá trình đi thực tế tại nhiều địa phương, tôi nhận thấy không ít nơi đang chịu áp lực rất lớn. Sau quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, khối lượng công việc tăng lên trong khi hệ thống công nghệ, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực chưa phát triển tương xứng. Điều đó khiến áp lực đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng lớn hơn.
Vì vậy, theo tôi, xây dựng văn hóa công vụ không chỉ là xây dựng chuẩn mực ứng xử hay tác phong làm việc, mà còn là tạo dựng tư duy đổi mới, tinh thần học hỏi và năng lực thích ứng để công nghệ thực sự trở thành công cụ phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
- Từ kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực trong thời đại số, ông đánh giá như thế nào về mối quan hệ giữa cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa công vụ trong giai đoạn hiện nay?
Ông Nguyễn Cảnh Bình:Theo tôi, đây là ba yếu tố có mối quan hệ tương hỗ rất chặt chẽ với nhau và khó có thể tách rời.
Khi các quy trình được cải tiến và chuyển đổi số được triển khai mạnh mẽ, bản thân đội ngũ thực thi công vụ cũng sẽ thay đổi và trưởng thành hơn. Có thể hiểu một cách đơn giản rằng, khi phương thức làm việc thay đổi thì cách quản lý, cách ứng xử và văn hóa làm việc cũng sẽ thay đổi theo.
Bên cạnh đó, văn hóa của doanh nghiệp và của xã hội bên ngoài cũng sẽ từng bước tác động đến văn hóa trong khu vực công. Đây là một quá trình diễn ra tự nhiên và liên tục.
Ví dụ như trong lĩnh vực báo chí. Các phóng viên thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp, với đời sống xã hội, với những mô hình quản trị và cách làm mới. Chính những trải nghiệm đó sẽ tác động ngược trở lại tới cách vận hành nội bộ của cơ quan báo chí, từ tư duy làm nghề đến phương pháp tổ chức công việc.
Hay rộng hơn, hiện nay lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng đề cao tính thực chất, tiết kiệm và hiệu quả trong các hoạt động quản trị và đối ngoại. Những thay đổi đó cũng tạo ra áp lực điều chỉnh đối với hệ thống quản lý ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta có thể thấy rất rõ văn hóa kinh doanh của Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ và từng bước tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Khu vực công cũng không thể đứng ngoài xu hướng đó.
Ngày nay, nếu không thay đổi thì sẽ rất khó đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội, của cộng đồng doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế số đang phát triển ngày càng nhanh.
Quan điểm của tôi là chuyển đổi số, cải cách hành chính và xây dựng văn hóa công vụ phải được triển khai đồng bộ. Ba yếu tố này không chỉ hỗ trợ lẫn nhau mà còn cùng chịu tác động từ những áp lực phát triển chung của đất nước, từ các chương trình cải cách của Chính phủ, từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và từ những biến đổi không ngừng của xã hội.
Những người làm báo cũng có thể cảm nhận rất rõ điều đó. Hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận báo chí Mỹ, báo chí châu Âu hay các nền báo chí phát triển khác để quan sát cách họ đặt tiêu đề, viết sapo, xây dựng tuyến bài hoặc thực hiện các cuộc phỏng vấn chuyên sâu.
Có những kiến thức được học trong trường lớp, nhưng cũng có rất nhiều điều chỉ có thể học được từ thực tiễn. Khi nhìn thấy một cách làm hay, một bài viết chất lượng hoặc một mô hình quản trị hiệu quả, tự nhiên chúng ta sẽ muốn học hỏi, tiếp thu và áp dụng vào công việc của mình.
Theo tôi, quá trình cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa công vụ cũng diễn ra theo quy luật tương tự. Đây là ba yếu tố luôn gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau và cùng thúc đẩy sự phát triển của một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người dân và doanh nghiệp trong thời đại số.
Minh bạch là thước đo của nền văn hóa công vụ hiện đại
- Theo ông, để xây dựng văn hóa công vụ hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ trong bối cảnh dữ liệu và công nghệ số ngày càng được ứng dụng sâu rộng, đội ngũ cán bộ, công chức cần đặt những giá trị cốt lõi nào lên hàng đầu nhằm tạo dựng niềm tin và nâng cao hiệu quả phục vụ?
Ông Nguyễn Cảnh Bình:Theo tôi, nếu phải lựa chọn một giá trị cốt lõi nhất thì đó là sự minh bạch.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng và các hoạt động quản lý nhà nước ngày càng được thực hiện trên môi trường điện tử, yêu cầu về minh bạch càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Minh bạch không chỉ là công khai thông tin mà còn là sự rõ ràng trong quy trình xử lý công việc, trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức và khả năng để người dân, doanh nghiệp theo dõi, giám sát các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước.
Khi có sự minh bạch, niềm tin xã hội sẽ được củng cố. Người dân và doanh nghiệp có thể biết hồ sơ của mình đang được xử lý đến đâu, ai chịu trách nhiệm và kết quả được giải quyết như thế nào. Điều đó giúp giảm chi phí thời gian, giảm các thủ tục không cần thiết và hạn chế những phát sinh tiêu cực.
Bên cạnh minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức cũng cần duy trì tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp và thái độ phục vụ. Công nghệ có thể giúp rút ngắn quy trình, tăng tốc độ xử lý công việc nhưng yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là con người. Một nền công vụ hiện đại không chỉ được đánh giá bằng mức độ ứng dụng công nghệ mà còn được đo bằng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Theo tôi, khi đội ngũ cán bộ, công chức thực sự lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, kết hợp với việc ứng dụng hiệu quả công nghệ và duy trì các giá trị cốt lõi như minh bạch, trách nhiệm và chuyên nghiệp, thì niềm tin xã hội sẽ ngày càng được củng cố, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong thời đại số.
- Khi dữ liệu, AI và các nền tảng số ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong hoạt động quản lý nhà nước, theo ông đội ngũ cán bộ, công chức cần thay đổi như thế nào về tư duy, tác phong làm việc và tinh thần trách nhiệm để thích ứng với yêu cầu mới, đồng thời xây dựng một nền văn hóa công vụ chuyên nghiệp, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ?
Ông Nguyễn Cảnh Bình:Theo tôi, điều đầu tiên và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, công chức phải chủ động quan sát, học hỏi và thích nghi với những thay đổi của xã hội, của công nghệ cũng như của môi trường bên ngoài.
Có ba đối tượng mà khu vực công cần thường xuyên quan sát và học hỏi, đó là quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Đây đều là những khu vực đang thay đổi rất nhanh và tạo ra những yêu cầu mới đối với hoạt động quản lý nhà nước.
Nếu nhìn trong dài hạn, khoảng 5 - 10 năm tới, với định hướng cải cách hiện nay, tôi cho rằng sẽ có những thay đổi đáng kể trong việc sử dụng và luân chuyển nguồn nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư.
Cá nhân tôi là một trong những người ủng hộ việc từng bước giảm bớt các rào cản giữa hai khu vực này.
Từ trước đến nay, việc cán bộ từ khu vực nhà nước chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp khá phổ biến. Tuy nhiên, chiều ngược lại, từ khu vực tư nhân tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước vẫn còn nhiều rào cản và chưa thực sự thuận lợi.
Trong khi đó, tại nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Mỹ, sự luân chuyển nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư diễn ra khá bình thường. Nhiều doanh nhân bước vào chính trường hoặc tham gia điều hành bộ máy nhà nước. Ngược lại, không ít bộ trưởng, quan chức sau khi kết thúc nhiệm kỳ trở thành giáo sư đại học, cố vấn hoặc lãnh đạo các doanh nghiệp lớn.
Điều này xuất phát từ thực tế rằng tri thức, kinh nghiệm và năng lực quản trị của cả khu vực công lẫn khu vực tư đều có những giá trị riêng và có thể bổ sung cho nhau.
Tại Mỹ, nhiều Bộ trưởng Tài chính từng là lãnh đạo các tập đoàn tài chính lớn trước khi tham gia chính phủ. Ở đó gần như không tồn tại những rào cản cứng giữa hai khu vực.
Còn tại Việt Nam, trong nhiều năm qua, sự dịch chuyển chủ yếu vẫn theo hướng từ khu vực nhà nước sang doanh nghiệp. Tuy nhiên, tôi cho rằng thế hệ trẻ hôm nay có thể sẽ chứng kiến ngày càng nhiều trường hợp doanh nhân, chuyên gia và những người có kinh nghiệm quản trị trong khu vực tư tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước.
Để thích ứng với bối cảnh mới, trước hết cần có chiến lược phát triển con người và phát triển hệ thống phù hợp từ cấp lãnh đạo cao nhất. Dù mỗi cá nhân có nỗ lực đến đâu, nếu thiếu những chính sách đủ mạnh và đủ mở thì rất khó tạo ra những thay đổi mang tính đột phá.
Tuy nhiên, ở góc độ mỗi cán bộ, công chức, vẫn có rất nhiều việc cần chủ động thực hiện.
Theo tôi, điều quan trọng nhất vẫn là gần dân, gắn bó với dân và học hỏi từ thực tiễn cuộc sống. Mọi đổi mới cuối cùng đều phải hướng tới mục tiêu phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Để làm được điều đó, có ba yếu tố cần đặc biệt chú trọng.
Thứ nhấtlà tri thức. Làm việc trong lĩnh vực xuất bản và báo chí giúp tôi càng tin rằng tri thức luôn là nền tảng của mọi sự phát triển. Trong một thế giới thay đổi rất nhanh bởi công nghệ và AI, cán bộ, công chức càng phải không ngừng học tập, cập nhật kiến thức mới và nâng cao năng lực chuyên môn.
Thứ hailà công nghệ. Công nghệ không còn là công cụ hỗ trợ đơn thuần mà phải trở thành một phần của hoạt động quản lý và điều hành. Người làm công vụ cần chủ động tiếp cận, học hỏi và ứng dụng công nghệ vào công việc hằng ngày để nâng cao hiệu quả xử lý công việc cũng như chất lượng phục vụ người dân.
Thứ balà văn hóa giao tiếp và văn hóa ứng xử. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với một nền công vụ hiện đại. Dù công nghệ có phát triển đến đâu thì yếu tố con người vẫn đóng vai trò quyết định. Tinh thần phục vụ, thái độ ứng xử chuẩn mực, sự tôn trọng và lắng nghe người dân chính là nền tảng để xây dựng niềm tin xã hội.
Tóm lại, cốt lõi vẫn là câu chuyện gần dân, hiểu dân và phục vụ người dân tốt hơn.
Trong tương lai, tôi cho rằng Nhà nước có thể tiếp tục mở rộng các mô hình thí điểm nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư nhân tham gia vào các vị trí quản lý trong khu vực công. Hiện nay đã có những mô hình bước đầu được triển khai nhưng quy mô vẫn còn khá hạn chế.
Ở nhiều quốc gia phát triển, việc những người giỏi trong khu vực tư tham gia điều hành bộ máy nhà nước là điều rất bình thường. Đây cũng là xu hướng mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo trong quá trình hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tôi nhớ cách đây khoảng hai thập kỷ từng có câu chuyện ông Trương Gia Bình mong muốn tham gia đảm nhiệm một vị trí quản lý trong lĩnh vực khoa học - công nghệ nhưng khi đó chưa có điều kiện thực hiện. Điều này cho thấy câu chuyện kết nối, luân chuyển và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao giữa khu vực công và khu vực tư vẫn là vấn đề đáng được tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.
Suy cho cùng, dù là AI, dữ liệu lớn hay bất kỳ công nghệ nào, mục tiêu cuối cùng vẫn phải là nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và xây dựng một nền công vụ hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả hơn.
Xin cảm ơn ông!
Việc xây dựng văn hóa công vụ không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo môi trường hành chính minh bạch, chuyên nghiệp và thân thiện. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.