Thứ năm, 24/09/2026

Lực đẩy tín dụng: Thêm động lực cho tăng trưởng hai tỉnh An Giang và Cà Mau

Đến cuối tháng 9/2026, tín dụng tại ngành Ngân hàng Khu vực 15 tiếp tục tăng, nhưng đằng sau những con số tích cực là một bài toán không dễ khơi thông sức hấp thụ vốn mà vẫn giữ được chất lượng tín dụng.

Lực đẩy tín dụng: Thêm động lực cho tăng trưởng hai tỉnh An Giang và Cà Mau

Dòng vốn tiếp tục tăng nhưng không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GRDP của An Giang phấn đấu từ 10,71%, Cà Mau 10%. Trong bối cảnh đó, tín dụng đang được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng để chuyển hóa các cơ hội đầu tư, sản xuất và thương mại thành tăng trưởng thực chất.

Số liệu báo cáo hoạt động ngân hàng từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, ước tính đến cuối tháng 9/2026, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Khu vực 15 đạt khoảng 413.000 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước và tăng 4,20% so với cuối năm 2025.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô mà ở cơ cấu dòng vốn. Tín dụng bằng VND ước đạt 398.100 tỷ đồng, chiếm 96,4% tổng dư nợ; tín dụng ngắn hạn khoảng 291.300 tỷ đồng, chiếm 70,5%. Đặc biệt, tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh ước đạt 338.400 tỷ đồng, tương đương 81,9% tổng dư nợ.

Những con số này cho thấy dòng vốn ngân hàng vẫn đang tập trung tương đối rõ vào hoạt động kinh tế thực, thay vì chạy mạnh vào các kênh đầu tư mang tính đầu cơ.

Tại An Giang, dư nợ tín dụng cuối tháng 9/2026 ước đạt 286.500 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và 5,16% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, Cà Mau đạt khoảng 126.500 tỷ đồng, tăng 2,11% so với cuối năm 2025.

Sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng tín dụng phản ánh phần nào cấu trúc kinh tế của hai địa phương. An Giang có quy mô tín dụng lớn hơn và nền kinh tế đa dạng hơn, trong khi Cà Mau có độ tập trung cao vào thủy sản, đặc biệt là chuỗi giá trị tôm.

Tại An Giang, sản xuất nông nghiệp tiếp tục là một trong những bệ đỡ của nền kinh tế. Sản lượng lúa ước đạt 6,07 triệu tấn, tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm 74,4%; sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản tăng 8% so với cùng kỳ.

Công nghiệp cũng duy trì đà tăng với IIP tăng 13,79%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,83%. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng trưởng mạnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 24,79%; doanh thu du lịch đạt 52.603 tỷ đồng, tăng 37,2%.

Nhưng chính những kết quả đó lại đặt ra yêu cầu cao hơn đối với tín dụng, vốn phải đi sâu hơn vào chuỗi giá trị, thay vì chỉ dừng ở khâu cung cấp vốn lưu động.

Đáng chú ý, dư nợ phục vụ nông nghiệp, nông thôn tại An Giang đến cuối tháng 8 đạt 161.909 tỷ đồng, tăng 4,71% so cuối năm 2025. Tín dụng xuất khẩu đạt 5.493 tỷ đồng, tăng 38,30%.

Đây là dư địa để ngân hàng tiếp tục đồng hành với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; hỗ trợ từ khâu sản xuất, thu mua đến chế biến và xuất khẩu. Khi tín dụng được thiết kế theo chuỗi, ngân hàng không chỉ tài trợ cho một khoản vay mà tham gia vào quá trình hình thành dòng tiền và khả năng trả nợ của cả chuỗi.

Tuy nhiên, rủi ro thị trường đang hiện hữu. Kim ngạch gạo giảm 20,08%, trong khi sản lượng lúa giảm 4,2%, cho thấy giá xuất khẩu đang tạo sức ép lên thu nhập của người sản xuất và doanh nghiệp. Đây chính là lúc chất lượng tín dụng quan trọng không kém tốc độ tăng trưởng tín dụng.

1787710450656_96648429579384322_96648429579384322_80d8ff106498c11ddb52013e4c4bcda4.jpg
Ảnh minh họa

Còn Cà Mau đang cho thấy sức bật rõ nét từ ngành thủy sản. 8 tháng đầu năm, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 851.400 tấn, tăng 9,7%; sản lượng tôm đạt 395.465 tấn, tăng 7,3%. IIP tăng 12,6%, trong đó sản lượng tôm chế biến tăng 16,7%.

Tín dụng cũng đang bám khá sát khu vực kinh tế này. Đến cuối tháng 8, dư nợ thủy sản toàn Khu vực 15 đạt 90.023 tỷ đồng, tăng 5,29% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, dư nợ cho vay tôm lại giảm 4,52%, còn 30.398 tỷ đồng; dư nợ cá tra giảm 12,90%.

Đây là một tín hiệu đáng chú ý, sản lượng tăng nhưng tín dụng vào một số ngành hàng chủ lực lại giảm cho thấy doanh nghiệp và hộ sản xuất có thể đang thận trọng hơn với việc mở rộng vay vốn, trong bối cảnh thị trường xuất khẩu, giá cả và rủi ro thương mại quốc tế còn khó đoán.

Cà Mau vì thế cần một cách tiếp cận tín dụng khác: không chỉ tăng hạn mức mà phải tăng khả năng chống chịu của người vay. Các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu, tiết kiệm chi phí và tạo giá trị gia tăng cao trong chuỗi tôm cần được ưu tiên hơn.

Đến cuối tháng 9, huy động vốn toàn ngành Ngân hàng Khu vực 15 ước đạt 299.300 tỷ đồng, tăng 9,05% so với cuối năm 2025 và tăng 13% so với cùng kỳ. Trong đó, An Giang huy động khoảng 199.800 tỷ đồng, Cà Mau khoảng 99.500 tỷ đồng.

Trong khi nguồn vốn huy động tăng khá tốt, dư nợ chỉ tăng 4,20% so với cuối năm. Khoảng cách này phản ánh một thực tế nguồn vốn ngân hàng đang tăng nhanh hơn khả năng chuyển hóa thành tín dụng của nền kinh tế.

Đáng chú ý hơn, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn ngành Ngân hàng Khu vực 15 đến cuối tháng 8/2026 đạt 54.929 tỷ đồng, nhưng giảm 6,25% so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 9/2026, dư nợ ước khoảng 56.000 tỷ đồng, vẫn thấp hơn 4,42% so với cuối năm.

Đây là nút thắt cần được tháo gỡ, doanh nghiệp không vay không nhất thiết vì thiếu vốn ngân hàng; họ có thể thiếu đơn hàng, thiếu phương án kinh doanh đủ khả thi, hoặc chưa đủ tự tin để mở rộng đầu tư trong môi trường chi phí và thị trường còn nhiều biến động.

Bởi vậy, thúc đẩy tín dụng lúc này không thể chỉ bằng mục tiêu tăng dư nợ. Muốn tín dụng tăng bền vững, trước hết phải làm cho doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội tăng trưởng.

Từ “bơm vốn” sang “thiết kế dòng vốn”

Thực tế triển khai chính sách đang cho thấy hướng đi từ “bơm vốn” sang “thiết kế dòng vốn”. Đến cuối tháng 8/2026, tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn đạt 235.543 tỷ đồng, tăng 5,16%; tín dụng xuất khẩu đạt 15.839 tỷ đồng, tăng tới 33,42%. Trong khi đó, tín dụng cho công nghiệp hỗ trợ mới khoảng 700 tỷ đồng và tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chỉ 22 tỷ đồng.

Những con số này cho thấy dòng vốn đang tập trung mạnh vào các lĩnh vực truyền thống, trong khi các động lực tăng trưởng mới vẫn cần thêm thời gian để hình thành.

Tín dụng xanh cũng là một ví dụ. Đến cuối quý II/2026, dư nợ tín dụng góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh đạt 879 tỷ đồng, tăng 47,97%, nhưng mới chiếm khoảng 0,2% tổng dư nợ Khu vực 15.

Vì vậy, bước tiếp theo không đơn thuần là “bơm” thêm tiền mà là thiết kế những sản phẩm tín dụng phù hợp với từng chuỗi giá trị và từng loại rủi ro vốn cho lúa gạo chất lượng cao ở An Giang, vốn cho chuỗi tôm thích ứng khí hậu ở Cà Mau, vốn cho chế biến sâu, logistics, công nghệ và các dự án xanh.

ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 nêu quan điểm: “Bài toán của tín dụng lúc này không phải là đưa ra thị trường bao nhiêu tiền, mà là dòng vốn được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và dòng tiền trả nợ như thế nào. Với An Giang, trọng tâm cần là chuỗi lúa gạo, thủy sản và công nghiệp chế biến; với Cà Mau là chuỗi tôm và các ngành kinh tế biển. Muốn tăng sức hấp thụ vốn, ngân hàng cần đi cùng doanh nghiệp và chính quyền địa phương trong việc hình thành vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường và nâng chất lượng dự án.

Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ đến nông nghiệp và thủy sản, tín dụng xanh không nên chỉ được xem là một phân khúc nhỏ mà cần trở thành một cấu phần của quản trị rủi ro tín dụng. Khi phương án sản xuất có khả năng chống chịu tốt hơn, khả năng trả nợ cũng bền vững hơn”.

Động lực tăng trưởng phải bắt đầu từ chất lượng dòng vốn

8 tháng năm 2026, cả An Giang và Cà Mau đều duy trì đà tăng trưởng ở nhiều lĩnh vực, song cũng bộc lộ những điểm nghẽn về đầu tư công, xuất khẩu, thị trường nông sản, năng lực doanh nghiệp và tác động của biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh đó, tín dụng có thể trở thành “đòn bẩy”, nhưng không thể một mình tạo ra tăng trưởng.

Đến tháng 9/2026, dòng vốn ngân hàng đang cho thấy hai tín hiệu song song khả năng cung ứng vốn vẫn tốt, nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế cần được củng cố thêm. Khoảng cách giữa hai yếu tố này chính là nơi chính sách cần tập trung.

Nếu các dự án hạ tầng được đẩy nhanh, thị trường xuất khẩu ổn định hơn, doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng sản xuất và các chuỗi liên kết lúa gạo, thủy sản được tổ chức hiệu quả, tín dụng sẽ có thêm “đất” để tăng trưởng.

Khi đó, mục tiêu không còn là một con số dư nợ cao hơn, mà là mỗi đồng vốn ngân hàng tạo ra nhiều giá trị hơn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và hình thành dòng tiền đủ khỏe để quay trở lại hệ thống ngân hàng. Đó mới là cách tín dụng thực sự trở thành lực đẩy cho tăng trưởng bền vững của An Giang và Cà Mau.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.