Dòng vốn tiếp sức tăng trưởng địa phương
Trong 5 tháng đầu năm 2026, bức tranh kinh tế của 2 tỉnh thuộc ngành Ngân hàng Khu vực 13 ghi nhận nhiều gam màu sáng. trong khi, tỉnh Đồng Tháp duy trì đà tăng trưởng khả quan với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,24%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,36%, xuất khẩu rau quả tăng tới 73%, lượng khách du lịch tăng gần 19%; thì tỉnh Tây Ninh tiếp tục nổi lên như cực tăng trưởng công nghiệp – thương mại mới ở phía Nam, với chỉ số IIP tăng 12,32%, tổng mức bán lẻ tăng hơn 19%, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 32%.
Đằng sau nhịp tăng trưởng ấy là vai trò đặc biệt quan trọng của dòng vốn tín dụng ngân hàng. Bởi trong điều kiện thị trường vốn còn hạn chế, tín dụng ngân hàng vẫn là “kênh dẫn vốn chủ lực” nuôi dưỡng hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, thương mại dịch vụ và đầu tư hạ tầng tại địa phương.
Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 13, ước đến cuối tháng 5/2026, dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 542.756 tỷ đồng, tăng 3,36%. Trong đó: dư nợ tín dụng tại tỉnh Tây Ninh đạt hơn 291.397 tỷ đồng, chiếm 53,7% toàn khu vực; tỉnh Đồng Tháp đạt 251.359 tỷ đồng, chiếm 46,3%.
Điều đáng chú ý, tín dụng đang được định hướng tập trung mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành động lực và lĩnh vực ưu tiên. Riêng dư nợ 5 lĩnh vực ưu tiên đạt hơn 423.583 tỷ đồng, chiếm gần 79% tổng dư nợ toàn khu vực.
Tín dụng nông nghiệp – nông thôn tiếp tục giữ vai trò “xương sống”, với quy mô hơn 324.013 tỷ đồng, tương đương hơn 60% tổng dư nợ. Điều này phản ánh đúng đặc trưng kinh tế vùng khi tỉnh Đồng Tháp là trung tâm lúa gạo, thủy sản, trái cây của Đồng bằng sông Cửu Long; còn tỉnh Tây Ninh là vùng phát triển mạnh cây công nghiệp, logistics và công nghiệp chế biến.
Không khó để nhận ra, khi ngành lúa gạo đối mặt áp lực cạnh tranh và biến động giá quốc tế, dòng vốn ngân hàng vẫn đang đóng vai trò “bệ đỡ” giúp doanh nghiệp và nông dân duy trì chuỗi sản xuất. Dư nợ cho vay ngành lúa gạo hiện đạt gần 68.793 tỷ đồng; dư nợ cho vay thủy sản đạt hơn 21.437 tỷ đồng; rau quả đạt gần 17.776 tỷ đồng.
Đặc biệt, Chương trình tín dụng 185.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực nông – lâm – thủy sản đang được triển khai mạnh mẽ tại ngành Ngân hàng Khu vực 13. Đến cuối tháng 4/2026, dư nợ chương trình đạt 18.689 tỷ đồng, còn doanh số cho vay lũy kế đạt tới 39.250 tỷ đồng, chiếm hơn 21% tổng quy mô chương trình toàn quốc. Trong đó, hơn 80% doanh số tập trung tại Đồng Tháp – nơi thủy sản đang là ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 cho biết, nhiều doanh nghiệp thủy sản hiện không chỉ cần vốn lưu động mà còn cần các gói tín dụng trung – dài hạn để đầu tư công nghệ chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc từ các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản.
“Ngân hàng hiện không còn cho vay theo kiểu đơn thuần dựa vào tài sản thế chấp, mà đang chuyển sang đánh giá dòng tiền, chuỗi liên kết sản xuất và khả năng tham gia thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp”, TS. Phạm Minh Tú chia sẻ.
Tín dụng không chỉ “bơm vốn” mà còn tháo gỡ khó khăn
Một điểm đáng chú ý trong hoạt động điều hành của ngành Ngân hàng Khu vực 13 thời gian qua là tinh thần “đồng hành cùng doanh nghiệp”.
Không chỉ triển khai tín dụng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 còn trực tiếp tham gia các hội nghị đối thoại doanh nghiệp, phối hợp với các sở/ngành để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác xã và hộ sản xuất.
Trong tháng 5/2026, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 đã trực tiếp tham gia Hội nghị đối thoại doanh nghiệp tại Đồng Tháp, giải đáp bằng văn bản 7 kiến nghị của doanh nghiệp và hợp tác xã. Đồng thời, phối hợp chuẩn bị Hội nghị đối thoại doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng chủ lực.
Điểm mới của dòng tín dụng năm 2026 không chỉ nằm ở tăng trưởng quy mô, mà còn ở cách “dẫn vốn có chọn lọc”. Thay vì dàn trải, tín dụng đang tập trung nhiều hơn vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực xuất khẩu, công nghiệp chế biến, hạ tầng và chuyển đổi số.
Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện đạt hơn 66.583 tỷ đồng, tăng 5,31% so với cuối năm trước – mức tăng khá cao trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó về đơn hàng và chi phí đầu vào.
Tại tỉnh Tây Ninh, tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng tới 8,3%, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất công nghiệp, logistics và thương mại biên giới.
Trong khi đó, tín dụng bất động sản được kiểm soát chặt chẽ hơn. Dư nợ bất động sản toàn khu vực 13 đạt 46.690 tỷ đồng, chiếm 8,7% tổng dư nợ. Dù tăng 4,4% nhưng tỷ lệ nợ xấu lĩnh vực này đã giảm xuống còn 5,9%.
Điều này cho thấy ngành Ngân hàng đang nỗ lực cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát rủi ro tín dụng.
Song song với tín dụng thương mại, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục là “trụ đỡ” đối với người nghèo, hộ yếu thế và lao động nông thôn.
Đến cuối tháng 4/2026, dư nợ tín dụng chính sách đạt hơn 26.226 tỷ đồng, tăng 8,09% so với cuối năm 2025, hỗ trợ hơn 123 nghìn lượt khách hàng vay vốn từ đầu năm.
Nguồn vốn này tập trung cho vay tạo việc làm, nước sạch – vệ sinh môi trường nông thôn, học sinh sinh viên khó khăn, hộ nghèo và cận nghèo.
Đáng chú ý, dư nợ cho vay hợp tác xã tuy chưa lớn nhưng đang có xu hướng phục hồi. Trong 4 tháng đầu năm, doanh số cho vay hợp tác xã đạt 62 tỷ đồng; dư nợ đạt gần 124 tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều địa phương đang thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh và liên kết chuỗi, tín dụng cho hợp tác xã được kỳ vọng sẽ còn dư địa tăng trưởng mạnh hơn trong thời gian tới.
Định hướng thời gian đến cuối năm 2026
Muốn tín dụng trở thành đòn bẩy tăng trưởng mới, phải dẫn vốn theo chuỗi giá trị. Theo TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 nhận định, ngành Ngân hàng Khu vực 13 đang có lợi thế lớn khi sở hữu đồng thời 2 động lực tăng trưởng, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp – logistics cửa khẩu.
Tuy nhiên, để tín dụng thực sự trở thành “đòn bẩy phát triển”, dòng vốn ngân hàng cần chuyển mạnh từ cho vay đơn lẻ sang tài trợ chuỗi giá trị.
Thứ nhất, cần ưu tiên tín dụng cho các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – xuất khẩu trong ngành lúa gạo, thủy sản, rau quả nhằm giảm rủi ro đầu ra và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc.
Thứ hai, mở rộng tín dụng xanh và tín dụng chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã. Đây sẽ là nhóm có nhu cầu vốn rất lớn trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Thứ ba, tăng tốc kết nối dữ liệu giữa ngân hàng – thuế – hải quan – địa phương để hình thành hệ sinh thái tài chính số, giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn nhanh hơn và giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Thứ tư, tiếp tục giảm chi phí vốn thông qua chuyển đổi số, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng công nghệ trong quy trình tín dụng.
Nếu tiếp tục duy trì được định hướng “dẫn vốn đúng địa chỉ”, đồng thời kiểm soát tốt nợ xấu, ngành Ngân hàng Khu vực 13 sẽ không chỉ là kênh cung ứng vốn, mà còn trở thành lực đẩy chiến lược cho quá trình tái cơ cấu kinh tế địa phương trong giai đoạn mới.
- 32 đội thi hoàn thành vòng thi đầu tiên của Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 Sáng 22/5, trong khuôn khổ Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai”, 32 đội thi đã hoàn thành vòng thi đầu tiên “Kết sức mạnh”, để lại nhiều dấu ấn sáng tạo và lan tỏa tinh thần chủ động chuyển đổi số trong toàn ngành.