Kinh tế tăng trưởng tích cực nhưng áp lực lạm phát vẫn hiện hữu
Phát biểu tại Diễn đàn thường niên về diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam lần thứ 2 năm 2026 do Học viện Tài chính phối hợp với Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) vừa phối hợp tổ chức, PGS,TS. Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Tài chính cho biết, kinh tế thế giới trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều biến động khi xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn chuỗi cung ứng dầu khí, khiến giá hàng hóa và chi phí vận tải quốc tế biến động mạnh. Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức quốc tế như IMF, WB, OECD, Liên Hợp Quốc và Fitch Ratings đã đồng loạt điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 xuống khoảng 2,4-3,1%.
Ở trong nước, nền kinh tế vẫn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Theo báo cáo của Viện Kinh tế - Tài chính, GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,63% của cùng kỳ năm 2025. Riêng quý II, GDP tăng 8,39%, mức cao nhất của quý II kể từ năm 2011.
Các chỉ tiêu về tổng cầu cũng cho thấy xu hướng phục hồi rõ nét. Tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15%, trong khi tích lũy tài sản tăng tới 15,2%, phản ánh xu hướng mở rộng đầu tư và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào triển vọng phát triển kinh tế.
Về mặt bằng giá, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm tăng 4,38%, cao hơn mức 3,27% cùng kỳ năm trước nhưng vẫn trong ngưỡng kiểm soát. Đáng chú ý, CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước nhờ giá xăng dầu trong nước giảm theo diễn biến của thị trường thế giới.
Tuy vậy, Viện Kinh tế - Tài chính nhận định áp lực lạm phát trong nửa cuối năm vẫn hiện hữu khi Chính phủ tiếp tục triển khai các chính sách thúc đẩy tăng trưởng như đẩy mạnh đầu tư công, mở rộng tín dụng; đồng thời, thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ giá một số dịch vụ công trong lĩnh vực y tế, giáo dục và điều chỉnh tiền lương cơ sở từ ngày 1/7. Bên cạnh đó, những yếu tố khó lường như thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh cũng có thể tác động đến nguồn cung hàng hóa.
Trong kịch bản thuận lợi khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tiếp tục hạ nhiệt và giá dầu duy trì trong khoảng 60-70 USD/thùng, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo CPI bình quân cả năm 2026 dao động khoảng 4,3-4,5%, vẫn nằm trong mục tiêu Quốc hội đề ra.
Những yếu tố chi phối lạm phát
Phân tích sâu hơn về diễn biến giá cả, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, dù chưa thể lấy số liệu của vài tháng để kết luận cho cả năm, song các diễn biến hiện nay là tín hiệu cần được theo dõi và giám sát chặt chẽ.
Theo TS. Cấn Văn Lực, 4 nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào mức tăng CPI 6 tháng đầu năm gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,8%, đóng góp 36,7% vào CPI chung; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,7-7,2%, đóng góp gần 29%; giao thông tăng trên 5%, đóng góp 11,6%; giáo dục tăng 3,3%, đóng góp 4,7%. Đây là những lĩnh vực chiếm hơn 80% mức tăng CPI và cũng là các nhóm cần ưu tiên kiểm soát trong thời gian tới.
Về các yếu tố tác động đến lạm phát, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, áp lực chủ yếu đến từ chi phí đẩy khi giá lương thực, năng lượng và vật liệu xây dựng tăng. Trong khi đó, chỉ số giá ngoại thương tăng không đáng kể; yếu tố lạm phát nhập khẩu đóng góp rất ít do cấu trúc khối FDI chiếm tỷ trọng lớn trong xuất nhập khẩu. Áp lực từ cầu kéo cũng xuất hiện khi tín dụng, tiêu dùng và thị trường bất động sản phục hồi nhưng chưa ở mức đột biến.
Đối với tỷ giá, TS. Cấn Văn Lực cho biết, hiệu ứng truyền dẫn đến lạm phát hiện không quá lớn. Theo tính toán, khi tỷ giá tăng 1%, giá nhập khẩu chỉ tăng khoảng 0,17-0,18%; nếu giá nhập khẩu tăng 1% thì CPI tăng khoảng 0,1-0,18%.
Một điểm đáng chú ý khác là vòng quay tiền và áp lực tiền tệ. Theo TS. Cấn Văn Lực, vòng quay tiền 6 tháng đầu năm ước tính rất chậm, chỉ khoảng 0,33 lần, cho thấy dòng tiền vẫn còn ứ đọng trong hệ thống.
"Điều này có nghĩa là tiền vẫn còn ách tắc, tiền vẫn còn nhàn rỗi đâu đó, điểm này là điểm chúng ta sẽ phải lưu tâm thêm. Chúng tôi dự báo cả năm lạm phát ở mức 4,3-4,6%, khi đó vòng quay tiền ước tính cải thiện lên 0,67 lần nhưng vẫn là mức thấp. Chính vì vòng quay tiền chậm nên áp lực từ tiền tệ lên lạm phát cơ bản được kìm giữ ở mức không quá cao", TS. Cấn Văn Lực nhận định.
Theo vị chuyên gia này, việc điều chỉnh tiền lương từ ngày 1/7 dự kiến làm CPI tăng thêm khoảng 0,07 điểm phần trăm, tương đương đóng góp khoảng 1,6% vào CPI cả năm. Đồng thời, nhóm hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước quản lý giá như điện, nước, y tế, giáo dục hiện đóng góp khoảng 30% CPI, do đó việc điều chỉnh giá các mặt hàng này cần được tính toán kỹ lưỡng về lộ trình, thời điểm và mức độ.
Điều hành linh hoạt để giữ ổn định mặt bằng giá
Đánh giá về triển vọng những tháng cuối năm, PGS,TS. Ngô Trí Long cho rằng, mặt bằng giá sẽ tiếp tục chịu tác động của nhiều yếu tố như diễn biến địa chính trị, giá năng lượng, tỷ giá cũng như lộ trình điều chỉnh giá các dịch vụ thiết yếu.
PGS,TS. Ngô Trí Long dự báo, CPI năm 2026 có thể diễn biến theo 3 kịch bản, trong đó kịch bản cơ sở là CPI bình quân tăng khoảng 4,4-4,7%; còn trong trường hợp bất lợi, lạm phát có thể lên mức 4,8-5,2%.
Ở góc nhìn lạc quan hơn, chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Độ cho rằng, khả năng kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu Quốc hội đề ra vẫn khả thi nếu các điều kiện thuận lợi được duy trì. Ông dự báo CPI bình quân cả năm khoảng 4,7%.
Theo ông Nguyễn Đức Độ, kịch bản kiểm soát lạm phát dưới 4,5% hoàn toàn có thể xảy ra nếu giá dầu tiếp tục giảm, Nhà nước duy trì chính sách hỗ trợ thuế đối với xăng dầu đến hết năm, không điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và giáo dục, đồng thời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục giữ ổn định tỷ giá.
Các chuyên gia tại diễn đàn cũng thống nhất cho rằng, để vừa đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, vừa kiểm soát lạm phát, cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần theo dõi sát diễn biến giá các mặt hàng chiến lược như xăng dầu, vật liệu xây dựng, vàng, bất động sản và thị trường tài chính để chủ động ứng phó với những biến động từ bên ngoài.
Theo các chuyên gia, việc điều hành linh hoạt các chính sách vĩ mô, kiểm soát tốt các yếu tố hình thành giá và có lộ trình phù hợp đối với các mặt hàng do Nhà nước quản lý sẽ là yếu tố quyết định để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng trong năm 2026.