Thứ bảy, 24/10/2026

An Giang hỗ trợ 30% vốn hạ tầng, mở đường cho cụm công nghiệp

An Giang hỗ trợ 30% vốn đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp, tạo sức hút dòng vốn xã hội hóa, tháo gỡ điểm nghẽn và thúc đẩy phát triển công nghiệp.

An Giang hỗ trợ 30% vốn hạ tầng, mở đường cho cụm công nghiệp

Cú hích cho hạ tầng công nghiệp

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Minh Triết, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh An Giang cho biết, tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND nhằm hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội hóa, thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn.

Chính sách được triển khai trong bối cảnh đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi kéo dài, trong khi khả năng khai thác phụ thuộc đáng kể vào tiến độ thu hút doanh nghiệp thứ cấp. Việc ngân sách tỉnh chia sẻ một phần chi phí đầu tư được kỳ vọng giảm áp lực tài chính, nâng sức hấp dẫn của dự án và tạo thêm động lực hoàn thiện hạ tầng sản xuất tập trung.

Theo Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 29/6/2026 của HĐND tỉnh An Giang, có hiệu lực từ ngày 9/7/2026, mức hỗ trợ bằng 30% tổng mức vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp thuộc phạm vi được hỗ trợ. Cơ sở xác định kinh phí gắn với khối lượng xây dựng tính theo thiết kế cơ sở, không bao gồm chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư.

Đáng chú ý, đây là chính sách hỗ trợ sau đầu tư. Công trình hạ tầng phải được hoàn thành, nghiệm thu theo quy định pháp luật về xây dựng trước khi thực hiện thủ tục thanh toán, quyết toán kinh phí hỗ trợ. Như vậy, ngân sách tỉnh không cấp trước 30% vốn để nhà đầu tư triển khai dự án.

Chẳng hạn, một dự án có tổng vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật thuộc phạm vi tính hỗ trợ là 100 tỷ đồng thì khoản hỗ trợ tương ứng theo tỷ lệ quy định là 30 tỷ đồng, với điều kiện đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý. Đây là ví dụ minh họa cơ chế chính sách, không phải kinh phí đã được phê duyệt cho một dự án cụ thể.

Cách thiết kế chính sách cho thấy tỉnh lựa chọn cơ chế chia sẻ nguồn lực có điều kiện. Nhà đầu tư chủ động triển khai công trình, còn ngân sách hỗ trợ trên cơ sở kết quả đầu tư đã được nghiệm thu. Qua đó, nguồn lực công được gắn với sản phẩm hạ tầng cụ thể.

Nghị quyết cũng xác lập nguyên tắc không hỗ trợ trùng lặp từ các nguồn ngân sách nhà nước đối với cùng nội dung đầu tư. Trường hợp đáp ứng điều kiện của nhiều chính sách, chủ đầu tư được lựa chọn một mức hỗ trợ có lợi nhất theo quy định.

Chính sách hỗ trợ 30% vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật sau nghiệm thu được kỳ vọng tạo đòn bẩy thúc đẩy doanh nghiệp rót vốn xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp.

Một điểm đáng chú ý khác là kinh phí được ngân sách hỗ trợ không tính vào tổng mức đầu tư làm căn cứ xác định giá cho thuê lại đất hoặc giá sử dụng hạ tầng đối với doanh nghiệp trong cụm công nghiệp. Quy định này tạo cơ sở để lợi ích của chính sách không chỉ tập trung ở đơn vị phát triển hạ tầng mà còn góp phần giảm áp lực chi phí đối với nhà đầu tư thứ cấp, qua đó cải thiện sức cạnh tranh trong thu hút sản xuất.

Tuy nhiên, hiệu quả chính sách không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ hỗ trợ. Với cơ chế thanh toán sau đầu tư, doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm khả năng huy động vốn ban đầu, tiếp cận đất đai và hoàn thiện thủ tục xây dựng. Vì vậy, bên cạnh ưu đãi tài chính, yêu cầu đặt ra là tiếp tục tháo gỡ những khó khăn về mặt bằng, tín dụng và thủ tục hành chính, bảo đảm chính sách sớm chuyển hóa thành công trình hạ tầng phục vụ sản xuất.

Giải bài toán mặt bằng sạch và thu hút nhà đầu tư thứ cấp

Nếu chính sách hỗ trợ vốn là điều kiện cần, thì mặt bằng sạch, kết nối giao thông và hệ thống xử lý môi trường đồng bộ chính là điều kiện đủ để hình thành những cụm công nghiệp hoạt động hiệu quả. Thực tế cho thấy, một cụm công nghiệp dù có chính sách ưu đãi hấp dẫn vẫn khó thu hút doanh nghiệp nếu hạ tầng triển khai chậm, chi phí vận chuyển cao hoặc không đáp ứng yêu cầu xử lý nước thải, chất thải. Vì vậy, việc phát triển cụm công nghiệp tại An Giang cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ tái cấu trúc không gian sản xuất, thay vì đơn thuần mở rộng quỹ đất công nghiệp.

Theo Quyết định số 1514/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND tỉnh An Giang, phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, tỉnh xác định phát triển hệ thống cụm công nghiệp theo danh mục 44 cụm, đồng thời ưu tiên 5 cụm công nghiệp đến năm 2030 có nhiệm vụ tiếp nhận các cơ sở sản xuất công nghiệp phải di dời.

Các cụm công nghiệp được xác định trong định hướng ưu tiên gồm: Hàm Ninh, Hà Giang, Mỹ Phú, Bình An và Hòa An.

Đáng chú ý, mục tiêu di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, đô thị không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ môi trường. Nếu được tổ chức hiệu quả, đây còn là cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ nâng cấp dây chuyền, đổi mới công nghệ và tiếp cận hệ thống hạ tầng kỹ thuật tập trung.

Tuy nhiên, di dời chỉ phát huy hiệu quả khi chi phí thuê đất, sử dụng hạ tầng và tổ chức lại sản xuất nằm trong khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nếu thiếu chính sách đồng hành, một số cơ sở có thể gặp khó khăn khi chuyển đến địa điểm mới.

Ở phương diện hạ tầng kết nối, danh mục dự án sử dụng vốn ngân sách tỉnh trong Đề án tái cơ cấu cũng đặt ra định hướng đầu tư các tuyến giao thông phục vụ cụm công nghiệp, trong đó có các tuyến kết nối Hà Giang, Cái Tư, Hòa An, Vĩnh Trạch và Tân Thành.

Hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ là mắt xích huyết mạch giúp các cụm công nghiệp rút ngắn thời gian vận chuyển, lưu thông hàng hóa và gia tăng sức hút với nhà đầu tư.

Sự kết hợp giữa vốn ngân sách phát triển giao thông đối ngoại và vốn doanh nghiệp đầu tư hạ tầng bên trong cụm công nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Một hệ thống đường kết nối thuận lợi giúp giảm chi phí vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm và nâng khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bài toán khó nhất vẫn là tổ chức thực hiện đồng bộ. Công tác giải phóng mặt bằng thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi người sử dụng đất, phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư và khả năng bố trí nguồn kinh phí. Nếu không giải quyết kịp thời, dự án có thể bị kéo dài, làm tăng chi phí vốn và ảnh hưởng quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Đặc biệt, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc phối hợp giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh với chính quyền cấp xã nơi triển khai dự án cần được xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và đầu mối xử lý vướng mắc.

Để chính sách hỗ trợ 30% phát huy tác dụng, An Giang cần ưu tiên những cụm công nghiệp có khả năng hoàn thành mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật và thu hút doanh nghiệp thứ cấp trong thời gian phù hợp. Việc lựa chọn dự án cũng cần gắn với lợi thế vùng nguyên liệu, nhu cầu sản xuất thực tế và khả năng kết nối logistics.

Bên cạnh nguồn vốn, các chỉ tiêu như tỷ lệ lấp đầy, số doanh nghiệp hoạt động, việc làm tạo ra và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn môi trường phải trở thành thước đo hiệu quả phát triển cụm công nghiệp. Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND vì thế mở ra một công cụ chính sách quan trọng, nhưng hiệu quả cuối cùng không chỉ nằm ở số tiền ngân sách hỗ trợ. Thước đo có ý nghĩa hơn là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành hạ tầng hoàn chỉnh, tạo mặt bằng sản xuất cạnh tranh và thu hút được những dự án công nghiệp có giá trị gia tăng. Khi những điều kiện được đáp ứng, các cụm công nghiệp mới có thể trở thành những mắt xích quan trọng trong quá trình tái cơ cấu công nghiệp, tạo động lực phát triển bền vững cho An Giang trong giai đoạn mới.

Điều kiện và quy trình tiếp cận chính sách hỗ trợ cụm công nghiệp: Theo Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND, chủ đầu tư phải đáp ứng các điều kiện theo Nghị định số 32/2024/NĐ-CP và hoàn thành đầu tư hạ tầng kỹ thuật theo quy định. Sau khi công trình được nghiệm thu, kinh phí hỗ trợ được xem xét thanh toán, quyết toán theo quy định, bảo đảm không trùng lặp nguồn ngân sách. Chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý, bảo trì công trình và không tính khoản hỗ trợ vào chi phí làm căn cứ xác định giá cho thuê lại đất, giá sử dụng hạ tầng.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.