Quản lý, giám sát công nghệ tài chính trong lĩnh vực chứng khoán

(Taichinhcongnghe.vn) Trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, khung pháp lý phục vụ cho việc quản lý, giám sát đối với hoạt động về công nghệ tài chính (Fintech) vẫn đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng. Bài viết tham khảo kinh nghiệm quản lý, giám sát Fintech của một số nước trên thế giới, rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất về cách thức tổ chức, khung pháp lý, chính sách và cơ chế hỗ trợ cho hoạt động ứng dụng Fintech tại TTCK Việt Nam.

Quản lý, giám sát công nghệ tài chính trong lĩnh vực chứng khoán

Vai trò của Fintech và điều kiện để áp dụng Fintech trên TTCK

Fintech có thể được ứng dụng vào TTCK theo nhiều cách thức rất đa dạng. Sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng ngày càng rộng rãi của Fintech có thể dẫn tới việc tái cơ cấu chuỗi giá trị của ngành kinh doanh chứng khoán, làm thay đổi chức năng truyền thống của các tổ chức trong ngành. Phân tích lợi ích (hay cơ hội) đem lại từ những trường hợp ứng dụng cụ thể thì những tác động chính của Fintech đến TTCK như sau:

(i) Đối với nhà đầu tư (bên cầu): Fintech tạo thêm những sản phẩm đầu tư và dịch vụ mới, từ đó đa dạng hóa các phương án lựa chọn cho nhà đầu tư. Tùy theo mục tiêu, khẩu vị rủi ro và mức độ hiểu biết, nhà đầu tư có thể tìm thấy những phương thức đầu tư mới phù hợp. Quan trọng hơn, ngay cả những nhà đầu tư sở hữu số tiền rất nhỏ cũng có cơ hội kiếm lợi nhuận với chi phí thấp hơn (như tham gia các nền tảng gọi vốn cộng đồng) và hưởng những dịch vụ chất lượng mà các dịch vụ truyền thống khó đáp ứng được (ví dụ như quản lý tài sản và tư vấn tự động). Lợi ích này, kết hợp với một số yếu tố khác đạt được nhờ công nghệ (như giám sát bất cân xứng về thông tin; cải thiện về quy trình, tính minh bạch và quản lý rủi ro) là động lực củng cố niềm tin đối với thị trường và mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

(ii) Đối với doanh nghiệp (bên cung): Khả năng tiếp cận vốn doanh nghiệp được mở rộng đáng kể cả về không gian, thời gian và đối tượng cung cấp vốn. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt với những doanh nghiệp (doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa) khó đáp ứng các yêu cầu, điều kiện để huy động vốn theo những phương thức truyền thống như phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Không những thế, xu hướng phi trung gian hóa (trong quá trình huy động vốn) nhờ ứng dụng Fintech còn giúp cắt giảm một số loại phí (chi phí trung gian, chi phí hành chính cho giấy tờ, hồ sơ) làm giảm bớt chi phí vốn cho doanh nghiệp.

(iii) Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán: Việc ứng dụng Fintech có thể giúp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Ở cấp độ cao hơn, ứng dụng công nghệ có thể dẫn đến sự thay đổi quá trình tạo ra và cung cấp sản phẩm, dịch vụ (chẳng hạn như sử dụng định danh khách hàng điện tử thay vì phương thức truyền thống), thậm chí là mô hình kinh doanh, giúp các tổ chức kinh doanh chứng khoán tối ưu hóa hoạt động tốt hơn, tiết kiệm chi phí, cải thiện hiệu suất và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, một nhánh của Fintech là công nghệ quản lý có thể giúp các tổ chức này đáp ứng các yêu cầu tuân thủ từ phía cơ quan quản lý hiệu quả hơn.

(iv) Đối với cơ sở hạ tầng của thị trường: Được nâng cấp theo hướng tăng hiệu quả (nhờ tự động hóa, đơn giản hóa các quy trình), giảm chi phí (nhờ phi trung gian hóa), cải thiện sự minh bạch và độ an toàn, kiểm soát tốt hơn các rủi ro hoạt động và thanh toán. Điều này diễn ra trên toàn chuỗi giá trị gắn với cơ sở hạ tầng thị trường (từ thị trường sơ cấp đến thị trường thứ cấp, từ khâu giao dịch đến khâu xử lý hậu giao dịch và dịch vụ thông tin - dữ liệu), không chỉ ở các thị trường giao dịch chứng khoán niêm yết mà cả với những lĩnh vực vẫn được coi là có nhiều thách thức hơn như thị trường phi tập trung (OTC), thị trường vốn cổ phần tư nhân.

(v) Đối với cơ quan quản lý: Sự phát triển của Fintech mặc dù đặt ra cho cơ quan quản lý những thách thức (khi các sản phẩm, dịch vụ mới, thành phần tham gia thị trường mới và những mô hình kinh doanh mới xuất hiện), song cũng đem lại những cơ hội để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý, giám sát. Với việc ứng dụng công nghệ giám sát, cơ quan quản lý có thể tự động hóa quy trình hoạt động, số hóa cơ sở dữ liệu và công cụ làm việc hay cải thiện khâu phân tích dữ liệu. Hệ quả là, phương thức quản lý, giám sát truyền thống (phần nhiều dựa vào dữ liệu quá khứ và việc thanh kiểm tra tại chỗ) sẽ được thay thế bằng phương thức mới có tính chủ động và dự báo tốt hơn, dựa trên việc phân tích cơ sở dữ liệu phức tạp (dữ liệu phi cấu trúc và tiếp cận theo thời gian thực). 

Điều kiện ứng dụng hiệu quả Fintech trên TTCK: Việc ứng dụng Fintech trên thị trường tài chính nói chung, TTCK nói riêng hứa hẹn mang lại những lợi ích lớn khi xét trên nhiều khía cạnh, từ người tiêu dùng, các doanh nghiệp (các công ty công nghệ lớn, các tổ chức tài chính truyền thống và các doanh nghiệp Fintech) đến hiệu quả hoạt động của thị trường và cả nền kinh tế. Tuy nhiên, những rủi ro, thách thức đặt ra với tất cả các bên là không ít, thậm chí có thể đe dọa đến khả năng tồn tại của các thành viên thị trường và sự lành mạnh của hệ thống. Điều cốt lõi là cần chuẩn bị những gì, tiếp tục vận hành theo hướng nào để vừa phát huy những mặt tích cực của Fintech, đồng thời cũng kiểm soát được các rủi ro tiềm ẩn để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài chính trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0.

Để khai thác được những lợi ích của đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính, các ứng dụng của Fintech và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cần có môi trường thuận lợi để phát triển. Lee và Shin (2017) chỉ ra 5 nhân tố của hệ sinh thái Fintech, bao gồm: doanh nghiệp Fintech, các nhà phát triển công nghệ, chính phủ, người tiêu dùng và các tổ chức tài chính truyền thống. Trong các nhân tố này, chính phủ có vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường chính sách, pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp Fintech.

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý, giám sát hoạt động Fintech trên TTCK

Tổ chức thể chế và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý: Ngoài Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng mô hình quản lý tài chính hợp nhất với một cơ quan quản lý cao nhất chịu trách nhiệm ban hành chính sách về tài chính và giám sát các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm, các nước còn lại trong nhóm được nghiên cứu đều không có một cơ quan quản lý, giám sát tài chính chung.

Tại Hoa Kỳ, Ủy ban Chứng khoán (SEC) là cơ quan chịu trách nhiệm chính về việc quản lý TTCK, giám sát thực thi luật chứng khoán và bảo vệ nhà đầu tư. Ngoài ra, nhiều tổ chức khác như Cơ quan Quản lý tài chính (FINRA), Ủy ban Giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa (CFTC), Cục Bảo vệ tài chính người tiêu dùng (CFPB), Mạng lưới Thi hành luật pháp về tội phạm tài chính (FinCEN), hay Cục Bảo vệ tài chính người tiêu dùng (CFPB)... cũng có vai trò trong hoạt động ứng dụng Fintech trên TTCK.

Tại Thái Lan, Cơ quan Phát triển kinh tế số (DEPA) được thành lập tháng 1/2017 để chuẩn bị cho việc chuyển đổi số của nền kinh tế này. Liên quan đến Fintech còn có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý khác nhau, trong đó ở vị trí trung tâm là Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BoT), Ủy ban Chứng khoán (SEC) và Văn phòng Ủy ban bảo hiểm (OIC). Cả BoT và SEC đều thành lập những bộ phận riêng chịu trách nhiệm xử lý những vấn đề về Fintech.

Tại Trung Quốc, công tác quản lý Fintech do các cơ quan khác nhau thực hiện. Cụ thể: Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) phụ trách mảng thanh toán trực tuyến, Ủy ban Quản lý Ngân hàng và Bảo hiểm (CBIRC) quản lý mảng cho vay ngang hàng và bán bảo hiểm trên internet, Ủy ban Chứng khoán (CSRC) chịu trách nhiệm quản lý giám sát lĩnh vực huy động vốn cộng đồng dạng cổ phần và chào bán sản phẩm quỹ trên internet, Cơ quan quản lý không gian mạng Trung Quốc (CAC) quản lý dịch vụ thông tin chuỗi khối (blockchain).

Khung pháp lý và quản lý: Tại Hoa Kỳ, đối với huy động vốn cộng đồng dựa trên vốn cổ phần, cơ chế quản lý được thiết lập nhằm giảm bớt các quy định tuân thủ đối với nhà vận hành nền tảng và nhà phát hành. Đạo luật JOBS đã được ban hành để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo đó, JOBS tạo ra một loại hình trung gian mới dựa trên internet (tức là một cổng huy động vốn) để chào bán chứng khoán ra công chúng. Toàn bộ các cổng gọi vốn cộng đồng phải được đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Sở Giao dịch (SEC) và Cơ quan Quản lý ngành tài chính (FINRA). Yêu cầu tuân thủ đối với các tổ chức trung gian này được nới lỏng hơn so với quy định dành cho các tổ chức môi giới - tự doanh đăng ký hoạt động trên TTCK.

Bên cạnh đó, JOBS yêu cầu các công ty huy động vốn phải được thành lập tại Hoa Kỳ và số tiền tối đa mỗi công ty được phép huy động qua các nền tảng gọi vốn cộng đồng không vượt quá 1,07 triệu USD/năm. Họ được miễn chuẩn bị và nộp bản cáo bạch cho SEC song phải công bố cho nhà đầu tư những thông tin nhất định (về doanh nghiệp, hội đồng quản trị và đội ngũ quản lý, báo cáo tài chính). Ngoài ra, JOBS cho phép mọi công dân Hoa Kỳ đều có thể đầu tư qua hình thức gọi vốn cộng đồng nhưng phải tuân theo một mức trần đầu tư được tính dựa trên giá trị tài sản ròng và thu nhập hàng năm trong mỗi thời kỳ 12 tháng.

Liên quan đến quản lý đầu tư, quản lý tài sản, nhiều doanh nghiệp Fintech cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chịu sự điều chỉnh của luật và các quy định trong lĩnh vực chứng khoán, bao gồm huy động vốn cộng đồng, tư vấn đầu tư tự động, quản lý tài sản số và dịch vụ ngân hàng giám sát.

Tại Nhật Bản, ngoại trừ lĩnh vực giao dịch tiền mã hóa và dịch vụ trung gian thanh toán điện tử được ban hành quy định quản lý riêng, chưa có khung pháp lý chuyên biệt cho lĩnh vực Fintech. Về nguyên tắc, các quy định chung được áp dụng cho tất cả các dịch vụ tài chính được quản lý bất kể dịch vụ đó có được cung cấp thông qua các doanh nghiệp Fintech hay phối hợp với doanh nghiệp Fintech hay không.

Tại Trung Quốc, từ năm 2007, Chính phủ cho phép các nền tảng cho vay ngang hàng P2P và các công ty tài chính trực tuyến khác hoạt động dù chưa thiết lập khung pháp lý và quy trình quản lý riêng. Đến năm 2015, sau những vụ đổ vỡ và tai tiếng, trong đó có mô hình lừa đảo Ponzi của E’zubao, Chính phủ mới bắt đầu thắt chặt khâu quản lý. Theo văn bản Quan điểm chỉ đạo về thúc đẩy phát triển lành mạnh tài chính internet (tháng 7/2015), CSRC sẽ là cơ quan quản lý chính đối với hoạt động gọi vốn cổ phần từ cộng đồng. Tháng 10/2016, CSRC ban hành các quy định về huy động vốn cộng đồng qua góp vốn cổ phần, trong đó xác định rõ những hành vi coi là bất hợp pháp.

Đối với việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối, Trung Quốc nghiêm cấm hoạt động chào bán tiền lần đầu (ICO) từ tháng 9/2017. Tháng 1/2019, CAC ban hành quy định về quản lý dịch vụ thông tin chuỗi khối mới ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/2/2019.

Tại Hàn Quốc, các doanh nghiệp Fintech thực hiện gọi vốn cộng đồng chịu sự điều chỉnh của Luật Dịch vụ đầu tư tài chính và thị trường vốn (FSCMA) sửa đổi năm 2016. Đối với hoạt động cho vay ngang hàng, các quy định cụ thể được Ủy ban dịch vụ tài chính Hàn Quốc (FSC) ban hành vào tháng 2/2017.

Đối với dịch vụ tư vấn đầu tư, quản lý tài sản tự động, năm 2016, FSC ban hành quy định cho phép mở rộng phạm vi của dịch vụ này sang tư vấn đầu tư và quản lý tài sản tài chính của khách hàng. Đầu năm 2019, FSC tiếp tục cải tổ quy định về kinh doanh đầu tư tài chính thúc đẩy sự phát triển của mảng dịch vụ tư vấn đầu tư tự động.

Đối với lĩnh vực ICO, tháng 9/2017, FSC đưa ra thông cáo báo chí cấm các đợt chào bán ICO vi phạm FSCMA. Sau đó, FSC tuyên bố mọi hình thức ICO, bao gồm cả loại hình chứng khoán, đều bị cấm. Hiện tại lệnh cấm này (và những quy định nghiêm ngặt khác liên quan đến tiền mã hóa) đang được xem xét lại.

Chính sách, sáng kiến thúc đẩy sự phát triển của Fintech: Tại Hoa Kỳ, bên cạnh cơ chế cấp phép đặc biệt, một số cơ quan quản lý cấp tiểu bang và liên bang đã phát triển các khung pháp lý thử nghiệm hoặc các chương trình thử nghiệm đối với Fintech. Cụ thể, tháng 8/2018, Arizona trở thành bang đầu tiên tạo ra khung pháp lý thử nghiệm để tạo thuận lợi cho các sáng tạo trong lĩnh vực Fintech. Nhiều cơ quan quản lý ở Hoa Kỳ cũng tạo ra những văn phòng hoặc đưa ra sáng kiến với mục tiêu hợp tác với các doanh nghiệp Fintech và thành viên của ngành dịch vụ tài chính để thúc đẩy các sáng tạo trong lĩnh vực tài chính.

Tại Nhật Bản, với vai trò là cơ quan quản lý thị trường tài chính, FSA đã có nhiều sáng kiến thúc đẩy sự phát triển của Fintech trên thị trường tài chính như: (i) Năm 2015, thành lập bộ phận hỗ trợ Fintech; (ii) Nhận định Fintech là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong ấn phẩm “Những ưu tiên và định hướng chiến lược” xuất bản tháng 9/2015 (iii) Tháng 6/2018, Chính phủ Nhật Bản giới thiệu khung pháp lý thử nghiệm như là một trong những cơ chế để thực hiện cải cách pháp lý nhằm thúc đẩy hiện thực hóa các công nghệ sáng tạo và mô hình kinh doanh mới; (iv) Chính phủ Nhật Bản cũng có chương trình ưu đãi về thuế đối với các nhà đầu tư thiên thần, đó là: Giảm thuế thu nhập (tổng thu nhập được khấu trừ số tiền đầu tư vào công ty mục tiêu chưa tạo ra lợi nhuận trong vòng 3 năm kể từ khi công ty đó được thành lập) hoặc giảm lãi vốn phát sinh khi chuyển nhượng cổ phần trong công ty mục tiêu (lãi vốn được khấu trừ số tiều đầu tư vào công ty mục tiêu có thời gian hoạt động chưa đến 10 năm).

Tại Trung Quốc, những doanh nghiệp được Chính phủ xếp vào diện “công ty công nghệ cao” có thể được hưởng những chính sách ưu đãi như giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế thu nhập đối với những giao dịch chuyển nhượng hoặc chuyển giao công nghệ nhất định, cho phép thực hiện khấu hao nhanh đối với một số loại tài sản cố định, nhận trợ cấp của Chính phủ (áp dụng cho công ty và nhân lực do công ty thuê). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cơ chế khuyến khích bao gồm trợ cấp tài chính, hoàn thuế, giảm mức thuế suất, giảm chi phí vay và các chương trình đào tạo do Chính phủ khởi xướng.

Tại Hàn Quốc, Chính phủ rất quan tâm và khuyến khích phát triển các loại hình Fintech. FSC đã công bố 18 dự án trọng tâm nhằm triển khai các sáng kiến tài chính trong khuôn khổ kế hoạch hoạt động trong năm 2018 và một trong những ưu tiên hàng đầu của FSC là ủng hộ sự phát triển của các doanh nghiệp Fintech. Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc cũng xây dựng các cơ chế khuyến khích đặc biệt đối với doanh nghiệp Fintech hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung chủ yếu vào các ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, chương trình vườn ươm công nghệ dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (TIPS) của Chính phủ cũng đem lại một cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp Fintech.

Tại Thái Lan, cuối năm 2016, BoT đã khởi động một khung pháp lý thử nghiệm cho Fintech thông qua việc ban hành văn bản “hướng dẫn thực hiện”, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn tham gia và các quy tắc mà đối tượng tham gia phải tuân theo. Khung thử nghiệm của BoT có sự tham gia của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp Fintech và các công ty công nghệ khác.

Năm 2017, SEC cũng cho ra mắt một số khung pháp lý thử nghiệm, một trong số đó là khung thử nghiệm dành cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán và chứng khoán phái sinh. Các sản phẩm sáng tạo mới như tư vấn đầu tư tự động, giao dịch thuật toán và tư vấn đầu tư dựa trên thuật toán có thể hưởng lợi từ khung thử nghiệm này.

Ủy ban Đầu tư (BOI) đưa ra các ưu đãi phi thuế với những doanh nghiệp nằm trong nhóm ngành mục tiêu được lựa chọn để thúc đẩy phát triển.

Một số hàm ý cho TTCK Việt Nam

Việc ứng dụng Fintech trên TTCK Việt Nam xét trong dài hạn là khách quan và tất yếu. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường hiện tại, ứng dụng Fintech trên TTCK cần đảm bảo cân bằng giữa lợi ích đổi mới, sáng tạo và những rủi ro do Fintech mang lại, chú trọng đến công tác quản lý rủi ro, đặc biệt đối với những rủi ro mang tính hệ thống. Theo đó, những khuyến nghị về chính sách phải toàn diện, khắc phục được những hạn chế hiện tại, phát triển được trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Khung khổ pháp lý, chính sách phải dựa trên nguyên tắc, phương pháp quản lý; tránh phụ thuộc công nghệ cụ thể vì công nghệ luôn phát triển nhanh, pháp lý khó theo kịp. Chính sách quản lý, giám sát hoạt động Fintech đề xuất phải đảm bảo TTCK là một kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ đạo, tạo điều kiện phát triển kinh tế; góp phần giúp TTCK Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và lành mạnh hơn nữa; củng cố năng lực của cơ quan quản lý theo thông lệ tốt nhất của quốc tế; đảm bảo quản lý, giám sát được các rủi ro liên quan.

Về tổ chức cơ chế, cơ chế phối hợp và phương pháp tiếp cận, vấn đề đầu tiên là cần sớm thành lập đơn vị chuyên trách cấp trung ương và địa phương. Theo đó, đề xuất thành lập đơn vị chuyên trách về Fintech tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Ban chỉ đạo quốc gia về Fintech và thiết lập cơ chế phối hợp triển khai Fintech ở tầm quốc gia. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý giám sát thị trường tài chính trong dài hạn. Ngoài ra, đối với vấn đề phương pháp tiếp cận quản lý Fintech, có hai hình thức tiếp cận có thể xem xét áp dụng cho thị trường: (i) Cơ chế quản lý thử nghiệm: Đây là cơ chế do cơ quan quản lý thiết lập cho phép các công ty Fintech được thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh theo kế hoạch thử nghiệm đã được phê duyệt, dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý trong thời gian nhất định trước khi được phép cung ứng sản phẩm chính thức ra thị trường. (ii) Trung tâm đổi mới sáng tạo: Các doanh nghiệp ứng dụng Fintech (gồm định chế tài chính truyền thống, doanh nghiệp mới tham gia) và các doanh nghiệp Fintech khởi nghiệp có thể trao đổi và đưa ra những yêu cầu đối với cơ quan quản lý có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến Fintech và tìm kiếm những khuyến nghị mang tính định hướng về sự phù hợp của các sản phẩm, dịch vụ tài chính sáng tạo hoặc mô hình kinh doanh đổi mới.

Về khung pháp lý, cần xây dựng nghị định quy định về các vấn đề cơ bản của hoạt động Fintech, tiêu chuẩn đánh giá, mô hình triển khai, quan điểm quản lý, các biện pháp ưu đãi và phân công trách nhiệm giữa các bên đối với các lĩnh vực ứng dụng của Fintech. Trước mắt cần xây dựng khung pháp lý cho Trung tâm đổi mới sáng tạo. Trong dài hạn, cần xây dựng khung pháp lý thử nghiệm.

Đối với lĩnh vực chứng khoán, UBCKNN chủ trì, trình Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, có thể ở mức nghị định cho hoạt động Fintech trong lĩnh vực chứng khoán. Nghị định cần xây dựng dựa trên Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/2/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Cơ cấu lại TTCK và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, trong đó giao UBCKNN chủ trì thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến Fintech như số hóa các tài sản tài chính trên TTCK, xác thực khách hàng trực tuyến (eKYC), giao dịch trực tuyến, giao dịch tự động, quản lý danh mục tự động, tư vấn tự động... Nội dung nghị định bao gồm: (i) Điều kiện để một tổ chức được tham gia vào khung pháp lý thử nghiệm cho hoạt động Fintech; (ii) Điều kiện về hồ sơ xin phép đối với hoạt động thử nghiệm Fintech; (iii) Nghĩa vụ và quyền lợi của các bên tham gia vào khung pháp lý thử nghiệm cho hoạt động Fintech (tổ chức đăng ký tham gia, cơ quan quản lý); (iv) Cơ chế báo cáo của tổ chức đăng ký tham gia; (v) Cơ chế giám sát của cơ quan quản lý; (vi) Cơ chế xử lý vi phạm, chấm dứt hoạt động thử nghiệm; (vii) Cơ chế phối hợp, tổ chức thực hiện với các cơ quan có thẩm quyền; (viii) Cơ chế đánh giá kết quả thực hiện của cơ quan quản lý.

Ngoài ra, tùy theo từng giai đoạn phát triển, nhu cầu của thị trường và mục tiêu quản lý nhà nước, UBCKNN nghiên cứu, ban hành thông tư hướng dẫn việc thực hiện một số lĩnh vực, sản phẩm cụ thể.

Việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động phát hành tiền ảo, tài sản ảo cũng cần sớm được triển khai. Vấn đề quản lý tiền ảo, tài sản ảo và hoạt động ICO phải dựa trên phân loại, từ đó áp dụng các quy định pháp luật chuyên ngành tương ứng. Cụ thể, tiền ảo là chứng khoán (được phát hành với mục đích xác định quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành) được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán. Đối với tiền ảo không phải là chứng khoán, tổ chức phát hành vẫn phải thực hiện đăng ký với Bộ Tài chính. Hoạt động phát hành tiền ảo/tài sản ảo dựa trên nền tảng blockchain. Do đó, khung pháp lý khuyến khích, hỗ trợ nền tảng công nghệ cần được xây dựng trước dựa trên sự phối hợp triển khai với Bộ Khoa học và Công nghệ. Ngoài ra, tiền ảo/tài sản ảo phải được giao dịch trên sàn giao dịch do cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Chính phủ cần có quan điểm rõ ràng nhằm định hướng việc khuyến khích/hạn chế hoạt động ICO. Qua đó, Bộ Tài chính có thể đề xuất phương án hỗ trợ giảm/tăng thu về thuế đối với các tổ chức phát hành, sàn giao dịch và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến hoạt động ICO, từ đó tránh thất thu thuế cho Nhà nước.

Về cơ chế hỗ trợ hoạt động Fintech, cơ quan quản lý có thể áp dụng một số phương án về hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực Fintech: (i) Đối với công ty đầu tư vào các doanh nghiệp Fintech, có thể giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế đối với phần lãi phát sinh khi chuyển nhượng cổ phiếu của doanh nghiệp Fintech; (ii) Đối với doanh nghiệp Fintech, có thể miễn thuế trong 5 năm đầu, ưu đãi 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo, được khấu trừ thuế đối với một số chi phí từ các hoạt động nghiên cứu và phát triển (chi phí nhân công và nguyên vật liệu), miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng, chuyển giao công nghệ nhất định. Đồng thời, các doanh nghiệp trong lĩnh vực Fintech có thể nhận được sự trợ giúp từ cơ quan quản lý trực tiếp thông qua Trung tâm tư vấn hoặc Trung tâm đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, các doanh nghiệp Fintech có thể được hỗ trợ về vốn, thông qua Quỹ hỗ trợ lấy từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc đóng góp từ các tổ chức trong nước và quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1. FSB (2019), Fintech and Market Structure in Financial Services: Market Developments and Potential Financial Stabilications, https://www.fsb.org/wp-content/uploads/P140219.pdf.

2. Lee, In and Shin, Yong (2017), Fintech: Ecosystem, Business Models, Investment Decisions, and Challenges, Business Horizons.

3. Mcquinn, A., Guo, W.& Castro (2016), Policy Principles for Fintech, https://www2.itif.org/2016-policy-principles-fintech.pdf.

4. Restoy and Fernando  (2019), Regulating Fintech: What ls Going On, and Where Are the Challenges?.

Bài đăng Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 23 năm 2020

THS. TRẦN TRỌNG TRIẾT

Theo Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ