Vàng rung lắc, ai là người hưởng lợi?
Thời gian qua, thị trường vàng trong nước liên tục rung lắc, chao đảo. Giá có thể vọt lên rất nhanh vào buổi sáng, đảo chiều vài giờ, sau đó đột ngột xuất hiện đợt điều chỉnh mới dù ngày giao dịch còn chưa khép lại. Sự tăng, giảm dồn dập ấy khiến nhiều người khó bắt kịp, đặc biệt với những người đã và đang mua vàng theo tâm lý đám đông, rủi ro gần như luôn chực chờ.

Nhà vàng Mi Hồng lãi mỏng, bền bỉ mở rộng quy mô hoạt động. Ảnh: Thu Thủy
Giá vàng trong nước dĩ nhiên chịu tác động trực tiếp từ diễn biến của thị trường thế giới. Tuy nhiên, thị trường vàng Việt Nam từ lâu vẫn mang những nét đặc trưng khác biệt, thể hiện ở chỗ giá niêm yết luôn bỏ xa giá vàng quốc tế sau quy đổi, còn khoảng cách giữa giá mua vào và giá bán ra cũng thường xuyên bị kéo giãn, nới rộng. Có thời điểm, mức chênh lệch phổ biến lên tới 4 - 5 triệu đồng mỗi lượng, tùy thương hiệu và thời điểm giao dịch.
Chính vì vậy, nếu người dân mua vàng theo kỳ vọng "lướt sóng" trong thời gian ngắn hạn, chắc chắn sẽ nắm phần bất lợi. Chưa cần biết giá sau đó còn đi đến đâu, ngay tại thời điểm xuống tiền, họ đã phải chấp nhận trước phần rủi ro từ khoảng chênh lệch mua - bán quá lớn. Kể cả trong trường hợp giá vàng tăng lên, "độ vênh" này vẫn đủ sức bào mòn không ít cơ hội sinh lời.
Ngược lại, với các doanh nghiệp kinh doanh vàng, khoảng cách giá mua vào và bán ra càng rộng thì vùng an toàn càng dày hơn trước những cú đảo chiều bất ngờ của thị trường.
Bởi vậy, mỗi khi thị trường vàng dậy sóng, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lớn trong ngành cũng lập tức trở thành tâm điểm chú ý.
Ở phía Bắc, những cái tên như DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải hay PNJ thường xuyên được nhắc tới. Còn tại phía Nam, Mi Hồng là một thương hiệu khó có thể đứng ngoài câu chuyện này, bởi đây là một tên tuổi lâu năm trên thị trường vàng, gắn với vợ chồng ông Nguyễn Tu Mi và bà Phạm Thị Hồng.
Lãi mỏng, liên tục tăng vốn
Theo tài liệu của phóng viên, từ năm 2023, Mi Hồng càng lúc càng "đắt hàng" hơn, doanh thu bắt đầu tăng tốc rõ rệt. Nếu như giai đoạn 2020 - 2022, quy mô doanh thu mới dao động từ 407,1 tỷ đồng đến 585,5 tỷ đồng mỗi năm, thì sang năm 2023 con số này đã nhích lên 611,4 tỷ đồng, trước khi bật nhảy lên 2.137 tỷ đồng vào năm 2024. Tính chung 5 năm, doanh nghiệp ghi nhận gần 4.240 tỷ đồng doanh thu.
Ở chỉ tiêu lợi nhuận gộp, Mi Hồng lần lượt ghi nhận 13,45 tỷ đồng năm 2020, 9,72 tỷ đồng năm 2021, 12,7 tỷ đồng năm 2022, 23,45 tỷ đồng năm 2023 và 73,25 tỷ đồng năm 2024. Tương ứng với đó, biên lãi gộp qua từng năm ở mức 2,70%, 2,39%, 2,17%, 3,84% và 3,43%. Tính bình quân cho cả giai đoạn, cứ 100 đồng doanh thu thì doanh nghiệp giữ lại khoảng 3,13 đồng lãi gộp (tương ứng 3,13%).
Sau khi trừ các khoản chi phí và thuế, trong các năm 2020 - 2024, Mi Hồng thu về lợi nhuận sau thuế: 906,9 triệu đồng, 533,176 triệu đồng, 1,035 tỷ đồng, 5,479 tỷ đồng và 40,799 tỷ đồng. Lũy kế cả giai đoạn 5 năm, doanh nghiệp đạt 48,75 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Quy đổi theo doanh thu, trung vị biên lãi ròng của Mi Hồng là 0,66%/năm.
Với mức sinh lời còn khá mỏng, khoản thuế thu nhập doanh nghiệp mà Mi Hồng ghi nhận trong giai đoạn 2020 - 2024 cũng ở quy mô tương đối khiêm tốn, lần lượt vào khoảng 227,1 triệu đồng, 134,4 triệu đồng, 260 triệu đồng, 1,368 tỷ đồng và 10,191 tỷ đồng. Cộng dồn 5 năm, số thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà vàng này vào khoảng 12,18 tỷ đồng, tương đương xấp xỉ 0,29% trên tổng doanh thu 4.240 tỷ đồng.
Không chỉ kinh doanh vàng SJC và vàng nhẫn, Mi Hồng còn là địa chỉ quen thuộc trên thị trường vàng trang sức. Tuy nhiên, khi đặt cạnh một doanh nghiệp cùng ngành là PNJ, sự khác biệt về hiệu quả kinh doanh hiện lên khá rõ. Trong cùng giai đoạn 2020 - 2024, biên lãi gộp của PNJ được duy trì trong vùng 17,6 - 22%, bình quân đạt khoảng 18,76% mỗi năm.
Trong khi đó, biên lãi ròng của PNJ trong cùng giai đoạn dao động từ 5,26% đến 8,09%, bình quân trên 6% mỗi năm. Với doanh thu trung bình khoảng 32.000 tỷ đồng một năm, số thuế thu nhập doanh nghiệp mà PNJ nộp vào khoảng 550 tỷ đồng mỗi năm, tương ứng tỷ lệ xấp xỉ 1,72% trên doanh thu.
Dĩ nhiên, sự khác biệt này trước hết đến từ quy mô hoạt động giữa hai doanh nghiệp, song bên cạnh đó cũng phản ánh phần nào khác biệt về cơ cấu sản phẩm, khả năng tạo biên lợi nhuận và hiệu quả chuyển doanh thu thành lợi nhuận thực.
Ngoài câu chuyện doanh thu, lãi gộp hay lãi ròng, các chỉ tiêu tài sản của Mi Hồng cho thấy điểm đáng chú ý.
Trong giai đoạn 2020 - 2024, tổng tài sản của doanh nghiệp tăng từ 108,025 tỷ đồng lên 404,635 tỷ đồng. Cùng khoảng thời gian này, vốn chủ sở hữu tăng từ 107,887 tỷ đồng lên 345,623 tỷ đồng, còn nợ phải trả từ mức thấp cũng tăng lên 59 tỷ đồng vào cuối năm 2024.
Dù lợi nhuận sau thuế cộng dồn trong cả giai đoạn chỉ xấp xỉ 49 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu lại tăng thêm hơn 237 tỷ đồng. Điều đó cho thấy, bên cạnh phần lợi nhuận giữ lại từ hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp còn tiếp tục bổ sung lượng vốn rất lớn để mở rộng quy mô hoạt động.
