Ngày 18/10/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng đại diện 4 nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (VEFTA) gồm: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein chính thức ký kết VEFTA tại Hà Nội, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Đây là bước tiến mới trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nhưng cũng đặt ra yêu cầu nhìn nhận hội nhập trên cơ sở dữ liệu và kết quả. Đối chiếu với Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Nghị quyết số 59-NQ/TW), cần khẳng định những thành tựu đã được kiểm chứng, nhận diện các hạn chế và phản bác những cách diễn giải sai lệch về mục tiêu, bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế.
Những thành tựu và giá trị thực tiễn không thể phủ nhận
Ý nghĩa của VEFTA cần được nhìn từ nền tảng hợp tác đã có và những lĩnh vực hai bên có thể bổ trợ cho nhau. Hiện bình quân mỗi năm kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên EFTA đạt khoảng 2 tỷ USD. Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường này những mặt hàng như thủy sản, giày dép, dệt may, máy móc, thiết bị điện tử và linh kiện; trong khi nhập khẩu chủ yếu gồm máy móc, thiết bị công nghiệp, hóa chất, dược phẩm và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Cơ cấu này cho thấy quan hệ thương mại không chỉ hướng đến tiêu thụ hàng hóa, mà còn gắn với nhu cầu đầu vào của nền sản xuất.
Việt Nam cùng đại diện các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) chính thức ký kết hiệp định thương mại tự do.
Theo Cục Thống kê, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17%; nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD. Đây là những kết quả có thể kiểm chứng về quy mô và diễn biến thương mại hàng hóa của nền kinh tế.
Tuy nhiên, các mức tăng này không hoàn toàn do các FTA. Cục Thống kê đồng thời chỉ ra những yếu tố hỗ trợ, như sự phục hồi của nhu cầu tại nhiều thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô trong nước, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cải thiện quy trình số hóa trong logistics, hải quan. Các FTA tạo điều kiện tiếp cận thị trường và hưởng ưu đãi thuế quan, nhưng kết quả thương mại còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác.
Cơ cấu xuất khẩu cũng đặt ra cả cơ hội lẫn thách thức. Năm 2025, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt kim ngạch xuất khẩu 367,09 tỷ USD, chiếm 77,3% tổng kim ngạch; khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, chiếm 22,7% và giảm 6,1% so với năm trước. Nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các số liệu này cho thấy quy mô xuất khẩu lớn, đồng thời chỉ ra yêu cầu nâng năng lực của doanh nghiệp trong nước và tăng liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với khu vực FDI.
Quan hệ thương mại Việt Nam – EU tiếp tục ghi nhận quy mô tăng trưởng đáng kể. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai bên vượt 73,8 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu khoảng 56 tỷ USD sang thị trường EU. Đà tăng trưởng được duy trì trong năm 2026: riêng 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 44,26 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang EU vẫn dựa nhiều vào điện tử, máy tính và linh kiện, dệt may, da giày. Song song với các nhóm hàng này, nông, lâm, thủy sản đang mở rộng hiện diện thông qua những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, như cà phê, hạt điều, rau quả đông lạnh và thủy sản chế biến sâu. Việc tiếp cận các kênh phân phối tại Bắc Âu và Tây Âu cho thấy cơ hội nâng cao vị thế của hàng Việt không chỉ nằm ở quy mô cung ứng, mà còn ở khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, ưu đãi thuế quan theo EVFTA tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong giai đoạn các đối thủ ASEAN chưa có hiệp định thương mại tự do với EU, chưa được hưởng điều kiện tiếp cận tương tự.
Quan hệ kinh tế Việt Nam - EU cũng đang mở rộng theo hướng vượt ra ngoài hoạt động gia công và tiêu thụ hàng hóa. Với lợi thế về vị trí và khả năng kết nối thị trường, Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, cung ứng của doanh nghiệp châu Âu tại châu Á. Cùng với xu hướng chuyển đổi xanh, việc phát triển năng lực sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường có thể giúp Việt Nam nâng cao vai trò trong chuỗi giá trị khu vực, đồng thời tăng sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư từ EU.
Một chỉ tiêu khác cho thấy dư địa nâng cao hiệu quả khai thác hiệp định. Theo Bộ Công Thương, tỷ lệ sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi theo EVFTA trong năm 2025 đạt khoảng 34,6%. Điều này đồng nghĩa với việc vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa tận dụng hết những ưu đãi thuế quan mà hiệp định mang lại.
Như vậy, hội nhập mở ra điều kiện thuận lợi hơn, nhưng không thay thế năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn khai thác tốt các thị trường có tiêu chuẩn cao phải đầu tư vào chất lượng, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường và quản trị chuỗi cung ứng.
Nghị quyết số 59-NQ/TW xác định hội nhập là động lực chiến lược để phát triển đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ hiệu quả ngoại lực; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số.
Nghị quyết số 59-NQ/TW là kim chỉ nam cho mọi hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường. Ảnh minh hoạ.
Từ định hướng của Nghị quyết, có thể thấy hiệu quả hội nhập không chỉ đo bằng số FTA, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hay lượng vốn đầu tư thu hút được. Những chỉ tiêu ấy cần đặt bên cạnh chất lượng tăng trưởng, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị, khả năng làm chủ công nghệ và hiệu quả thực thi cam kết. Đúng như yêu cầu: Hội nhập sâu rộng nhưng phải góp phần củng cố nền tảng phát triển trong nước.
Nhận diện và phản bác những luận điệu sai lệch về hội nhập
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đã chỉ rõ một số kiểu diễn giải sai lệch về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trong đó có quan điểm cho rằng hội nhập đồng nghĩa với thay đổi định hướng phát triển, hoặc các FTA chỉ nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước ngoài khai thác thị trường trong nước.
Trước những cách nhìn nhận như vậy, việc phản bác không thể chỉ dừng ở khẳng định hay phủ định, mà cần được thực hiện trên cơ sở bằng chứng và lập luận thuyết phục. Các luận cứ cần dựa vào dữ liệu đáng tin cậy, căn cứ pháp luật và phân tích chặt chẽ.
Đầu tiên, hãy xem xét về nội dung, các hiệp định thương mại là khuôn khổ cam kết về quyền và nghĩa vụ kinh tế giữa các bên. Định hướng phát triển của Việt Nam được thể hiện trong đường lối, chủ trương và văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước; trong đó, Nghị quyết số 59-NQ/TW nhấn mạnh giữ vững lợi ích quốc gia - dân tộc, phát huy nội lực và tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Do đó, suy luận từ việc mở rộng hợp tác kinh tế, sang cho rằng Việt Nam từ bỏ định hướng phát triển của mình là không có căn cứ.
Có ý kiến cho rằng các FTA chủ yếu mang lại lợi thế cho doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các hiệp định này thiết lập cam kết giữa các bên, tạo điều kiện mở rộng thương mại và đầu tư theo những quy tắc đã thống nhất. Việc lợi ích được chuyển hóa thành kết quả cụ thể đến đâu còn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh và khả năng tận dụng ưu đãi của từng ngành hàng, doanh nghiệp.
Với VEFTA, phạm vi cam kết không chỉ giới hạn ở thương mại hàng hóa mà còn bao gồm dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, quy tắc xuất xứ, các biện pháp liên quan đến thương mại và phát triển bền vững. Điều này cho thấy VEFTA là khuôn khổ hợp tác kinh tế đa lĩnh vực, với các cam kết rộng hơn việc đơn thuần mở cửa thị trường cho hàng hóa nhập khẩu.
Điều cần phân tích là khả năng doanh nghiệp trong nước tận dụng cam kết, sức cạnh tranh của từng ngành, mức độ liên kết với doanh nghiệp FDI và hiệu quả của chính sách hỗ trợ. Khi một doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được ưu đãi, nguyên nhân có thể liên quan đến quy tắc xuất xứ, quy mô sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng hoặc chi phí tuân thủ. Những vấn đề đó cần được giải quyết bằng nâng cao năng lực và hoàn thiện chính sách, không thể suy diễn thành FTA chỉ có lợi cho đối tác nước ngoài.
Số liệu năm 2025 cho thấy, khu vực FDI chiếm 77,3% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, còn khu vực kinh tế trong nước chiếm 22,7% và có kim ngạch giảm 6,1% so với năm trước. Đây là một thách thức thực tế về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước. Nhưng từ số liệu này, kết luận phù hợp phải là cần nâng năng lực doanh nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và cải thiện liên kết với khu vực FDI; chứ không phải phủ nhận toàn bộ kết quả của hội nhập.
Bộ Công Thương định hướng thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW bằng kết quả có thể kiểm chứng
Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy tham gia sang chủ động đóng góp, xây dựng và định hình; đồng thời nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế để phục vụ xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Điều này đòi hỏi Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ đối ngoại, mà còn nâng cao năng lực thực thi cam kết, hoàn thiện thể chế, tăng sức cạnh tranh và phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp trong quá trình hội nhập.
Với VEFTA, thước đo tiếp theo không phải là những kỳ vọng tại lễ ký kết, mà là kết quả khi hiệp định được triển khai: doanh nghiệp có tiếp cận được thị trường hay không; ưu đãi được sử dụng đến đâu; đầu tư có góp phần nâng công nghệ, kỹ năng và năng lực sản xuất hay không; và liên kết với doanh nghiệp trong nước có được cải thiện hay không. Những câu hỏi này cần được trả lời bằng dữ liệu sau thực thi.
Hội nhập kinh tế quốc tế không phải lựa chọn giữa đóng cửa và mở cửa bằng mọi giá. Đó là quá trình mở rộng hợp tác trên cơ sở lợi ích quốc gia, đồng thời nâng cao nội lực để tận dụng cơ hội và ứng phó với cạnh tranh. Thành tựu cần được ghi nhận bằng dữ liệu đáng tin cậy; hạn chế phải được chỉ ra bằng bằng chứng; các luận điệu sai lệch cần được phản bác bằng văn kiện, số liệu và lập luận có thể kiểm tra. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW: hội nhập chủ động, sâu rộng và hiệu quả hơn, gắn chặt với năng lực tự chủ và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Sáng 17/10, báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tại Quốc hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, 9 tháng năm 2026, các khu vực kinh tế đều tăng khá, các động lực tăng trưởng được tập trung đẩy mạnh. Trong đó, xuất nhập khẩu tăng 30,4%, cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD.