Trong hành trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cơ khí chế tạo không chỉ là một ngành sản xuất mà còn là nền tảng tạo dựng năng lực tự chủ của nền kinh tế. Một quốc gia muốn xây dựng nền công nghiệp hiện đại, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu khó có thể phụ thuộc lâu dài vào máy móc, thiết bị, linh kiện và công nghệ nhập khẩu.
Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng hàng đầu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại.
Trong bối cảnh đó, Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam - CTCP (VEAM) đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ hơn theo hướng vừa củng cố những lĩnh vực truyền thống, vừa tạo ra những động lực tăng trưởng mới dựa trên công nghệ, sản phẩm và năng lực sản xuất thực chất.
Từ nền tảng cơ khí lâu năm đến yêu cầu tái định vị
Được thành lập ngày 12/5/1990, VEAM có hơn 35 năm gắn với quá trình phát triển của ngành cơ khí Việt Nam. Từ một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, VEAM chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ năm 2017. Hiện Công ty mẹ đầu tư vốn tại 25 đơn vị gồm các đơn vị trực thuộc, công ty con và công ty liên kết. Các lĩnh vực hoạt động trải rộng từ động cơ, máy nông nghiệp, cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ đến ô tô, xe máy.
Nền tảng ấy tạo cho VEAM vị trí khá đặc thù, vừa trực tiếp sản xuất công nghiệp, vừa sở hữu hệ sinh thái doanh nghiệp cơ khí, đồng thời tham gia các liên doanh lớn trong ngành ô tô, xe máy.
Các sản phẩm truyền thống của VEAM gồm động cơ diesel, máy nông nghiệp, máy kéo, phụ tùng; sản phẩm đúc và cơ khí hỗ trợ; ô tô tải và xe chuyên dụng. Trong công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp thuộc VEAM đã tham gia cung cấp sản phẩm cho nhiều đối tác trong và ngoài nước. Hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 43,1 triệu USD/năm và đang có xu hướng chuyển dịch sang các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
Đáng chú ý, VEAM còn có lợi thế từ các khoản đầu tư tại những liên doanh lớn trong ngành ô tô, xe máy như Honda Việt Nam, Toyota Việt Nam và Ford Việt Nam. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng, giúp Tổng công ty duy trì khả năng sinh lợi và tạo dư địa cho tái đầu tư sản xuất.
Theo ông Ngô Khải Hoàn, Chủ tịch Hội đồng quản trị VEAM, giai đoạn 2021-2025, lợi nhuận sau thuế hợp nhất của Tổng công ty đạt bình quân khoảng 6.875 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, cơ cấu lợi nhuận vẫn phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp liên doanh, liên kết, nhất là lĩnh vực ô tô, xe máy; trong khi đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi chưa tương xứng với nguồn lực của Tổng công ty.
Chiến lược phát triển VEAM giai đoạn 2026-2030 cũng nhìn nhận thẳng thắn những điểm nghẽn mà doanh nghiệp đang gặp phải như: công nghệ và năng suất tại một số dây chuyền chưa hiện đại; mức độ tự động hóa còn hạn chế; năng lực R&D, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi công nghệ và phát triển sản phẩm mới chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng mạnh.
Đây cũng là những hạn chế mà ngành cơ khí Việt Nam phải đối mặt, năng lực thiết kế còn yếu, nhiều doanh nghiệp vẫn thiên về gia công, lắp ráp; nguyên liệu và linh kiện còn phụ thuộc nhập khẩu; năng lực về đúc, rèn dập, xử lý nhiệt, gia công chính xác, máy công cụ và công nghiệp phụ trợ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển một ngành cơ khí có sức cạnh tranh cao.
Trong khi đó, cuộc cạnh tranh đang thay đổi nhanh chóng. AI, IoT, tự động hóa, phương tiện sử dụng năng lượng sạch, sản xuất xanh và những tiêu chuẩn mới của chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi phương thức sản xuất cơ khí truyền thống. Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ và yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa tạo ra thị trường mới, nhưng đồng thời sức ép từ doanh nghiệp FDI, hàng nhập khẩu và các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng ngày càng lớn.
Chính vì vậy, yêu cầu đổi mới VEAM đã nhiều lần được lãnh đạo Bộ Công Thương đặt ra. Cụ thể, tại buổi làm việc với VEAM ngày 6/3/2025, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài nhấn mạnh VEAM là một trong những doanh nghiệp được kỳ vọng và định hướng đóng vai trò nền tảng trong ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô sản xuất chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, đòi hỏi Tổng công ty phải thay đổi tư duy, cách làm, chủ động tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng trong và ngoài nước, đa dạng hóa sản phẩm.
Yêu cầu này đặt ra một bài toán lớn hơn đối với VEAM, không chỉ bảo toàn và phát triển vốn, mà phải chuyển nguồn lực đang có thành năng lực sản xuất mới.
Nguồn lực tài chính từ các liên doanh cần từng bước trở thành nguồn lực cho đổi mới công nghệ, R&D, sản phẩm mới và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Nói cách khác, VEAM cần chuyển từ lợi thế tài chính sang lợi thế công nghiệp, giảm dần sự phụ thuộc tương đối vào cổ tức và tạo dựng động lực tăng trưởng nội sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi.
Theo ông Ngô Khải Hoàn, Chiến lược 2026-2030 của VEAM đã xác định từng bước gia tăng tỷ trọng giá trị tạo ra từ sản xuất kinh doanh cốt lõi; phân bổ nguồn lực có trọng tâm vào những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh; đồng thời gắn phát triển với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cấp năng lực quản trị.
Định hướng này tiếp tục được lãnh đạo Bộ Công Thương nhấn mạnh tại buổi làm việc ngày 23/7/2026. Thứ trưởng Phan Thị Thắng yêu cầu VEAM đẩy mạnh tái cơ cấu, nghiên cứu tăng vốn cho những đơn vị hoạt động hiệu quả và tập trung nguồn lực cho khoa học, công nghệ, vật liệu mới, nghiên cứu và làm chủ các sản phẩm mới.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt khi VEAM đang bước vào chu kỳ phát triển 2026-2030. Tái cơ cấu lúc này không đơn thuần là sắp xếp lại doanh nghiệp, mà phải hướng dòng vốn, nhân lực và công nghệ vào những đơn vị, sản phẩm có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao hơn.
Đưa Nghị quyết số 57 – NQ/TW vào dây chuyền, sản phẩm và năng suất
Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế đòi hỏi khu vực công nghiệp phải tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao hơn, thì với VEAM, tinh thần Nghị quyết 57 trước hết cần được cụ thể hóa ngay trong nhà máy, dây chuyền sản xuất và từng sản phẩm.
Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt trong chỉ đạo của Bộ Công Thương đối với VEAM từ đầu năm 2025.
Trước đó, khi đến thăm và làm việc với Công ty TNHH Một Thành Viên Động Cơ và Máy Nông Nghiệp Miền Nam (SVEAM) – đơn vị thành viên của VEAM ngày 7/2/2025, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng cũng đã giao 5 nhóm nhiệm vụ cho VEAM và đơn vị thành viên. Trong đó, yêu cầu đầu tiên là đổi mới tư duy, xây dựng các giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong năm 2025, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng hai con số trong kỳ kế hoạch 2026-2030.
Đáng chú ý, Thứ trưởng yêu cầu doanh nghiệp xác định rõ sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ tiên tiến; đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW trong quản trị, sản xuất và kinh doanh nhằm giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu.
Lãnh đạo Bộ Công Thương yêu cầu VEAM cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW trong quản trị, sản xuất và kinh doanh nhằm giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm
Điều đó cho thấy yêu cầu tăng trưởng đặt ra với VEAM đó là tăng trưởng phải đi cùng đổi mới công nghệ, năng suất, khả năng làm chủ sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Theo mục tiêu đến năm 2030, VEAM xác định tiếp tục tập trung vào ba trụ cột lớn: động cơ và máy nông nghiệp; ô tô - xe máy; cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ.
Đối với động cơ và máy nông nghiệp, quá trình cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, chế biến sâu đang hình thành nhu cầu mới đối với máy móc có năng suất, độ chính xác và mức độ tự động hóa cao hơn. Trong bối cảnh đó, VEAM đã định hướng phát triển thêm sản phẩm phục vụ chế biến sau thu hoạch, nuôi trồng thủy sản, ngư nghiệp; nghiên cứu những dòng sản phẩm như máy thổi khí, hộp số thủy gắn động cơ điện và động cơ điện cho máy nông nghiệp. Đây là hướng đi phù hợp khi cơ giới hóa nông nghiệp ngày càng gắn chặt với tự động hóa, điện hóa và giảm phát thải.
Trong lĩnh vực ô tô, xe chuyên dụng, VEAM xác định mục tiêu là tiếp tục nghiên cứu sản phẩm mới, mở rộng hợp tác sản xuất và gia tăng nội địa hóa. Kế hoạch của Công ty mẹ đặt mục tiêu sản lượng ô tô VEAM tăng từ 1.800 chiếc năm 2026 lên 8.000 chiếc vào năm 2030. Sản lượng sản phẩm đúc dự kiến tăng từ 5.000 tấn lên 7.500 tấn trong cùng giai đoạn.
Công nghiệp hỗ trợ có thể trở thành một trong những không gian tăng trưởng quan trọng nhất của VEAM. Khi Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào chuỗi sản xuất ô tô, xe máy, điện tử và thiết bị công nghiệp, cơ hội không chỉ nằm ở việc cung cấp các chi tiết cơ khí đơn giản mà phải tiến lên những linh kiện có độ chính xác, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
Riêng Nhà máy đúc VEAM đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 7.500 tấn phôi đúc, doanh thu 300 tỷ đồng, hướng tới trở thành nhà sản xuất hàng đầu Việt Nam trong cung cấp phôi đúc cho các ngành công nghiệp trong nước và thế giới.
Những con số trong chiến lược cho thấy quyết tâm phục hồi mạnh khu vực sản xuất trực tiếp. Giá trị sản xuất công nghiệp của Công ty mẹ dự kiến tăng từ 554 tỷ đồng năm 2026 lên 3.141 tỷ đồng năm 2030; doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ từ 913 tỷ đồng lên 3.562 tỷ đồng. Tính cả giai đoạn 2026-2030, VEAM đặt mục tiêu giá trị sản xuất công nghiệp và doanh thu sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 50%/năm.
Đổi mới sáng tạo, nâng tầm vị thế VEAM
Không chỉ bó hẹp trong các sản phẩm truyền thống, trước những cơ hội mới từ các dự án trọng điểm của đất nước, tại buổi làm việc tháng 3/2025, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài đã gợi mở VEAM nghiên cứu khả năng tham gia chuỗi cung ứng cho các dự án đường sắt, đồng thời quan tâm đến chuỗi cung ứng cho các dự án năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Lãnh đạo Bộ yêu cầu các đơn vị chức năng phối hợp với VEAM xây dựng chiến lược trung và dài hạn, nâng hàm lượng khoa học công nghệ cả trong sản phẩm truyền thống lẫn sản phẩm mới.
VEAM sau đó xác định 5 chương trình phát triển, đổi mới sáng tạo liên quan đến cơ khí đường sắt, năng lượng xanh, cơ khí chế tạo, linh kiện ô tô và công nghiệp hỗ trợ. Đây có thể là những hướng mở để năng lực cơ khí tích lũy nhiều năm của Tổng công ty được đưa vào các thị trường có dung lượng lớn hơn.
Đến tháng 7/2026, định hướng này tiếp tục được mở rộng khi Thứ trưởng Phan Thị Thắng đề nghị VEAM nghiên cứu các sản phẩm phục vụ quốc phòng, an ninh và những sản phẩm lưỡng dụng; đồng thời chủ động kết nối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI để tham gia sâu hơn vào chuỗi công nghiệp hỗ trợ.
Thời gian qua các doanh nghiệp trong hệ sinh thái của VEAM không ngừng đổi mới sản phẩm, hiện đại hóa dây chuyền thiết bị sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí trong sản xuất, tăng sức cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đó là những gợi mở quan trọng cho bài toán sản phẩm của VEAM, từ động cơ, máy nông nghiệp, ô tô và linh kiện truyền thống có thể từng bước mở rộng sang cơ khí đường sắt, năng lượng, vật liệu mới, sản phẩm lưỡng dụng và các linh kiện công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, đổi mới sáng tạo không thể dừng ở khẩu hiệu. VEAM cần hình thành cơ chế kết nối chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp sản xuất với viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và các tập đoàn công nghệ; đồng thời đưa chuyển đổi số sâu hơn vào thiết kế, quản trị sản xuất, chuỗi cung ứng, kiểm soát chất lượng, năng lượng và thị trường.
Báo cáo chính trị nhiệm kỳ 2025-2030 của Đảng bộ Cơ quan VEAM xác định chủ động hợp tác với các trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo để đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; đào tạo 100% cán bộ, nhân viên về kỹ năng số, tập trung vào phân tích dữ liệu và quản trị công nghệ; mở rộng hợp tác phát triển sản phẩm mới và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, nhiệm vụ quyết liệt triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW được đặt ra trong toàn Tổng công ty và các đơn vị thành viên.
Thực tế, những chuyển động này đã bắt đầu được thể hiện trong kết quả sản xuất kinh doanh. Sáu tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất công nghiệp của VEAM ước đạt 2.024,7 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ; tổng doanh thu đạt 2.736,3 tỷ đồng, tăng 22%; doanh thu hoạt động công nghiệp đạt 2.509,2 tỷ đồng, tăng 24%. Riêng Công ty mẹ tiêu thụ 1.316 xe ô tô VEAM, tăng 316% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, kết quả trước mắt mới chỉ là tiền đề, thách thức lớn hơn đặt ra cho Tổng công ty là duy trì được nhịp tăng trưởng bằng chính năng lực sản xuất, sản phẩm và công nghệ trong cả giai đoạn 2026-2030.
Xa hơn, chiến lược đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa VEAM trở thành doanh nghiệp công nghiệp có năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực máy động lực, ô tô tải, thiết bị phục vụ nông nghiệp, cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Đến năm 2035, VEAM hướng tới trở thành doanh nghiệp công nghiệp quốc gia có năng lực chế tạo, tích hợp công nghệ và công nghiệp hỗ trợ hàng đầu Việt Nam, là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng ASEAN ở một số phân khúc trọng điểm.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng hai con số, yêu cầu đặt ra đối với những doanh nghiệp công nghiệp có vốn nhà nước như VEAM vì thế không chỉ là bảo toàn vốn hay duy trì lợi nhuận. Quan trọng hơn là sử dụng hiệu quả nguồn lực đang có để mở rộng năng lực sản xuất quốc gia, nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tạo thêm giá trị gia tăng trong nước. Đó cũng là cách VEAM cụ thể hóa Nghị quyết 57, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo ra năng suất mới; lấy năng lực chế tạo để gia tăng nội lực; lấy sản phẩm và thị trường mới để mở rộng không gian tăng trưởng, qua đó đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế.