Thứ tư, 02/09/2026

Tuyên ngôn Độc lập những giá trị còn mãi với thời gian

Cách đây 81 năm, vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Tuyên ngôn Độc lập những giá trị còn mãi với thời gian — Chính phủ Lâm thời Việt Nam
anh-2-9-.jpg

Tầm nhìn hướng đến toàn thể dân tộc Việt Nam và toàn thể nhân loại trong Tuyên ngôn Độc lập

Trong Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), với tầm nhìn hướng về toàn thể dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng câu: “Hỡi đồng bào cả nước”. Sau đó, Người dùng cụm từ “Nhân dân cả nước ta”, “Nhân dân ta”, “toàn dân Việt Nam”, “dân ta”, “toàn thể dân tộc Việt Nam”, “dân tộc ta”, “đồng bào ta”, “nòi giống ta”. Trịnh trọng tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam mới, Người đã dùng các cụm từ: “nước Việt Nam”, “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, “Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới”, “Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Trong Tuyên ngôn Độc lập của nước ta (2/9/1945), tầm nhìn hướng đến toàn thể nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở các cụm từ: “Tất cả mọi người”, “tất cả các dân tộc trên thế giới”, “thế giới”.

Trong đó có thể kể đến là các nước thuộc phe Đồng minh - là phe thắng lợi trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phe Đồng minh gồm ba nước giữ vai trò chủ đạo là Liên Xô, Mỹ, Anh. Ba nước này đã tham gia Hội nghị Tê-hê-răng (Tehran) ở Iran (họp từ ngày 23/11 đến 01/12/1943) để củng cố khối đoàn kết trong đấu tranh chống phát-xít.

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập Hội nghị Cựu-kim-sơn (San Francisco) ở Mỹ vào Tuyên ngôn Độc lập của nước ta đã nói lên ra tính thời đại to lớn.

Hội nghị Cựu Kim Sơn họp từ ngày 25/4 đến 26/6/1945, gồm đại biểu của 50 nước, đã thông qua bản Hiến chương Liên Hợp Quốc. Trong đó, nêu rõ mục đích của Liên Hợp Quốc là giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế, giải quyết các vấn đề tranh chấp và xung đột bằng biện pháp hòa bình, phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng các quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực.

Tuyên ngôn Độc lập đưa ra cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn vững chắc cho nền độc lập của nước ta

Trong Tuyên ngôn Độc lập, cơ sở pháp lý của nền độc lập của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sự dụng thông qua cái chung, cái nhân loại, từ những chân lí phổ biến, những “lẽ phải không ai chối cãi được” là “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776) và “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791), Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945 đã suy rộng ra là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945) cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, cơ sở thực tiễn của nền độc lập của Việt Nam là: Nước ta vốn là một nước độc lập. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Năm 1885, Kinh đô Huế thất thủ, nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã buộc triều đình nhà Nguyễn ký các văn bản thừa nhận quyền “bào hộ” của chúng trên đất nước ta.

Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945) tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới rằng: “Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945) cũng tuyên bố: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.

Tuyên ngôn Độc lập nói lên khát vọng của các dân tộc bị áp bức

Với tuyên bố “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 không chỉ tuyên bố nền độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá: “Ôn lại những chặng đường oanh liệt và vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm giữ nước và dựng nước, chúng ta càng thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta với sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới trong suốt thời gian lịch sử từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chúng ta càng thấy nổi bật những dòng chữ bất diệt, những tư tưởng lớn của bản Tuyên ngôn Độc lập, những tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam ta, những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đó cũng là những tư tưởng lớn của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới”.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.