Thứ hai, 31/08/2026

Từ nghị quyết 25 về Chiến lược công tác tư tưởng đến “hiểu, nhớ, theo, làm”

Từ nghị quyết 25 về Chiến lược công tác tư tưởng đến “hiểu, nhớ, theo, làm” — Bộ Chính trị

(Công Thương) - Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết câu ấy năm 1947. Bảy mươi chín năm sau, ngày 22/8/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cùng gốc rễ ấy.

Câu ấy cho thấy một sự thật giản dị mà khắc nghiệt. Quyền lực không chỉ ngủ trong nòng súng và con dấu. Nó sống trong đầu người ta, trong những điều người ta cho là hiển nhiên, không cần bàn cãi. Ai làm chủ được cái “hiển nhiên” ấy, người đó cầm chuôi.

Nửa thế kỷ sau, một người Nga vĩ đại đẩy vấn đề từ triết học sang chiến trường. TrongLàm gì?năm 1902, Lenin dành trọn một chương bàn về quan hệ giữa tính tự phát của quần chúng với tính tự giác của đảng. Ông cho rằng: yếu tố tự phát thực ra chỉ là hình thái phôi thai của tính tự giác. Nghĩa là: phong trào tự nó không đẻ ra nhận thức. Đám đông có thể sục sôi mà vẫn mù đường. Muốn từ phôi thai thành hình hài, phải có người bồi đắp, phải có tổ chức, phải có người đi trước mở lối.[2]

Bốn mươi lăm năm sau nữa, năm 1947 giữa rừng Việt Bắc, một người Việt Nam rút gọn cả hai luận điểm ấy vào bốn động từ mà bất kỳ cán bộ nào cũng thuộc: dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại.”[3]

Cũng chính Người, khi bàn về “biết ta” trong nghệ thuật đánh giặc, xếp bốn điều theo thứ tự. Kế hoạch tỉ mỉ, tổ chức chặt chẽ, huấn luyện kỹ càng đứng sau cả. Đứng đầu là thứ không sờ được, không đếm được: “Tư tưởng thông suốt: Mọi người đều thấm nhuần: kháng chiến phải trường kỳ gian khổ, song nhất định thắng lợi.”[4]

Ba tác giả, ba thế kỷ, một mạch chảy. Marx chỉ ra tư tưởng thuộc về ai. Lenin chỉ ra tư tưởng phải được tổ chức. Hồ Chí Minh chỉ ra tư tưởng phải đo bằng cái mà người dân làm.

Điều kỳ lạ của thế kỷ XX là những người đứng ở phía bên kia chiến tuyến tư tưởng, xuất phát từ chỗ đứng hoàn toàn khác, lại lần lượt đi tới kết luận có nét giống nhau.

Năm 1922, một nhà báo Mỹ tên Walter Lippmann xuất bảnPublic Opinion, cuốn sách khai sinh ngành nghiên cứu dư luận hiện đại. Luận điểm trung tâm của ông có thể tóm trong một hình ảnh: con người không sống trong thế giới, họ sống trong những bức tranh về thế giới treo trong đầu mình. Lippmann viết rằng môi trường thực tế quá lớn, quá phức tạp và quá thoáng qua để một người có thể làm quen trực tiếp, nên giữa con người với thực tại luôn có một lớp màn. Người ta phản ứng với lớp màn ấy chứ không phải với thực tại.[5]

Cũng những năm ấy, trong nhà tù của chế độ phát xít Ý, Antonio Gramsci ghi vào tập vở nhàu nát một công thức về sau thành nền của lý luận bá quyền văn hoá: tức là bá quyền được bọc trong lớp giáp của cưỡng chế. Điều Gramsci nhìn ra từ song sắt là ở các nước tư bản phát triển, sự thống trị đứng vững không phải nhờ cảnh sát, mà nhờ việc sản xuất ra sự đồng thuận trong lòng xã hội.[6]

Đến cuối thế kỷ, một giáo sư Harvard đặt tên cho cùng hiện tượng ấy bằng một thuật ngữ nay đã thành phổ thông. TrongBound to Leadnăm 1990 vàSoft Powernăm 2004, Joseph Nye định nghĩa quyền lực mềm là khả năng đạt được điều mình muốn bằng sức hấp dẫn, thay vì bằng cưỡng ép hoặc mua chuộc.[7]

Các lập trường chính trị đối nghịch nhau nhưng vẫn có nét nào đó chung về giá trị của yếu tố chính trị tinh thần, về niềm tin. Nhưng vượt lên với tầm nhìn và sự vận dụng linh hoạt lý luận vào thực tiễn, Nghị quyết 25 nâng tầm toàn diện hơn vị trí, vai trò, sức mạnh của tư tưởng bằng ngôn ngữ của Đảng ta, bằng một nghị quyết có tầm chiến lược lâu dài và có lẽ cũng là nghị quyết chiến lược của chiến lược.

Lý luận là một chuyện. Lịch sử cho thấy những dân tộc dám đặt cược vào việc dựng lại cách nghĩ của chính mình đều đi rất xa.

Năm 1868, nước Nhật mở cửa sau hai thế kỷ đóng kín. Việc đầu tiên họ làm không phải mua tàu chiến. Năm 1871 lập Bộ Giáo dục. Năm 1872 ban hành học chế Gakusei, kế hoạch giáo dục toàn quốc đầu tiên trong lịch sử nước này, chia cả nước thành tám khu đại học, mỗi khu ba mươi hai khu trung học, mỗi khu trung học hai trăm mười khu tiểu học. Cùng một lệnh ấy, hàng rào đẳng cấp giữa võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân bị xoá bỏ trong nhà trường, mọi người dân có cơ hội học hành ngang nhau. Một quốc gia vừa thức tỉnh đã hiểu rằng muốn đổi vận nước, phải đổi cái đầu của cả dân tộc trước.

Ngày 25/11/1952, Bộ trưởng Nội vụ Cộng hoà Liên bang Đức ký quyết định thành lập một cơ quan liên bang chuyên trách giáo dục chính trị cho công dân. Cơ quan ấy ra tuần báoDas Parlamentngay trong năm đầu, cuối thập niên đầu tiên phát hành khoảng tám mươi nghìn bản. Ngân sách của nó, từ năm 1952 đến năm 1960, tăng gấp bốn lần, lên khoảng 8,5 triệu Mác Đức. Năm 1963 đổi tên thành Trung tâm Liên bang về Giáo dục Chính trị. Cơ quan ấy tồn tại đến hôm nay.

Con số ấy đáng để dừng lại. Một nền dân chủ phương Tây điển hình đã rót ngân sách nhà nước, tăng gấp bốn lần trong tám năm, cho đúng cái công việc mà người ta vẫn quen gán riêng cho các nước xã hội chủ nghĩa. Hoá ra khác nhau không phải ở chỗ có làm hay không làm công tác tư tưởng. Khác nhau ở tên gọi và cách tổ chức.

Năm 1970, Hàn Quốc còn nghèo hơn nhiều nước châu Á. Phong trào Làng mới Saemaul Undong khởi đi từ ba chữ: cần cù, tự lực, hợp tác. Nhà nước chỉ cấp vật liệu ban đầu, còn mỗi làng phải tự bàn, tự quyết, tự làm. Cái được thay đổi trước không phải con đường hay cái giếng. Đó là cách người nông dân nhìn về khả năng của chính mình.

Năm 1965, Singapore tách ra khỏi Malaysia, một hòn đảo không tài nguyên, ba cộng đồng sắc tộc đứng bên bờ xung đột. Lựa chọn của họ là một ngôn ngữ chung để nói với nhau, giáo dục công dân trong nhà trường, rồi từ năm 1997 là chương trình Giáo dục Quốc gia. Từ chỗ có thể vỡ làm ba mảnh, họ dựng nên một quốc gia.

Con đường dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô.

Trong cuốnPhê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá, Thiếu tướng, Giáo sư Bùi Phan Kỳ thuộc Viện Chiến lược Quốc phòng dựng lại con đường dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô. Ông không bình luận một lời. Ông xếp các mốc ra rồi để tự chúng nói.[8]

Năm 1973, Tổng thống Mỹ R.Nixon chấp nhận để Mỹ ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi Việt Nam. Nhưng cũng chính con người ấy vạch ra đường đi cho quãng sau: “Về lâu dài chúng ta có thể khuyến khích diễn biến hòa bình trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, song nhiệm vụ đó không thể hoàn thành trong mấy chục năm mà phải làm trong nhiều thế hệ.”Đó là cách một chiến lược tư tưởng được hoạch định, tính bằng đời người chứ không bằng nhiệm kỳ.[9]

Mười năm sau, hai ngày 18 và 19/10/1983, Chính phủ Mỹ họp bàn về “dân chủ hoá các nước xã hội chủ nghĩa”. Ngoại trưởng Shultz nêu cách làm: thông qua tuyên truyền nhân quyền, liên minh mọi lực lượng để ủng hộ sự xuất hiện của những thế lực đòi dân chủ trong các nước cộng sản. Từ hội nghị ấy, một quỹ ra đời, Quốc hội Mỹ cấp 4 triệu đôla. Riêng khoản cố định hằng năm dành cho Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan là 40 vạn đôla, chưa kể máy vi tính, máy in, thiết bị truyền thanh gửi kèm.

Đồng tiền ấy sinh ra cái gì? Đến năm 1985, tổ chức này đã in hơn bốn trăm loại sách và tạp chí, có ấn phẩm phát hành trên ba vạn số, mỗi năm ra hàng nghìn cuốn sách. Đài phát thanh của họ chạy hoàn toàn bằng thiết bị Mỹ.

Bốn mươi vạn đôla một năm, ở thời giá đầu thập niên 1980, chưa bằng giá một chiếc máy bay chiến đấu. Nhưng nó mua được thứ mà không tên lửa nào mua nổi: bốn trăm đầu sách báo, một đài phát thanh, cùng một cách nghĩ khác len vào lòng xã hội.

Đúng vào tháng 3/1985, Gorbachev lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 02/1986, tại Đại hội lần thứ 27, ông giương khẩu hiệu dân chủ hoá tính công khai và dư luận đa nguyên hoá, coi đó là đột phá mở đường cải cách. Tháng 6/1988, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19, báo cáo của ông đi thêm bước cuối cùng: phải loại bỏ vấn đề đảng cộng sản là hạt nhân của thể chế chính trị, chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ tay đảng cộng sản sang tay Xôviết.

Ba năm sau, một siêu cường tồn tại bảy mươi năm biến mất khỏi bản đồ. Không một viên đạn nào bắn vào Điện Kremlin.Trận địa tư tưởng không mất trong một đêm. Nó mất dần qua bốn thập niên, bằng những phương tiện rất đời thường là sách, báo, đài, tiền và con người suy thoái tư tưởng chính trị.

Mảnh ghép thứ mười ba

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, dựng lại phương thức sản xuất. Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 mở rộng không gian phát triển bằng hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Mùa xuân năm ấy, hai nghị quyết ra cách nhau bốn ngày: Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, dựng khung thể chế; Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 phát triển kinh tế tư nhân, cởi trói cho một động lực lớn.

Sang mùa thu 2025, ba nghị quyết tiếp nối nhau lo phần nền và phần người: Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về các giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân. Đầu năm sau, hai nghị quyết ra liền hai ngày: Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 phát triển kinh tế nhà nước, cân lại chân còn lại của nền kinh tế; Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 phát triển văn hoá Việt Nam, lo phần hồn của một dân tộc đang giàu lên.

Nửa đầu năm 2026, chuỗi ấy mở tiếp ra bên ngoài. Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới một nguồn lực mà không sổ sách nào đo hết được là mấy triệu đồng bào đang sống xa Tổ quốc.

Rồi đúng ngày 22/8/2026, tròn một năm sau nghị quyết về giáo dục, Nghị quyết 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng được ban hành trong bối cảnh mới.

Xếp mười ba nghị quyết ấy cạnh nhau thì thấy ba lớp. Lớp thứ nhất lo cái nền vật chất và thể chế, gồm 57, 59, 66, 68, 70, 79 và 10. Lớp thứ hai lo con người, gồm 71 về giáo dục và 72 về sức khoẻ. Lớp thứ ba lo phần tinh thần cùng phần vươn ra thế giới, gồm 80 về văn hoá, 06 về đối ngoại và 23 về đồng bào ta ở nước ngoài. Mười hai nghị quyết ấy đều có thứ để đếm: sản lượng, thị phần, mét vuông trường học, mê ga oát điện, số dự án, số người trở về. Nghị quyết thứ mười ba bàn về thứ nằm sau tất cả những con số đó mà không có đơn vị đo riêng, là cách nghĩ của con người.

Quy mô nhân lực công tác tư tưởng đến năm 2030

11 chỉ tiêu chia theo ba cách đo.

Và chính ở đây, Nghị quyết 25 làm một việc mà chưa văn bản nào về lĩnh vực này đề cập.

Điểm thứ nhất, nó tự đặt cho mình một hệ chỉ tiêu định lượng đến năm 2030. Mười một con số để đối chiếu, trong đó mức độ lan toả của nội dung xấu độc trong nước phải giảm tối thiểu 70% so với năm 2026, cả nước hình thành mạng lưới 15.000 tới 20.000 người có uy tín và người có ảnh hưởng tích cực, toàn Đảng có 4.000 tới 6.000 cán bộ tuyên giáo nòng cốt được đào tạo chuyên sâu.

Điểm thứ hai mới là chỗ hiếm: nó cụ thể hóa việc chấm điểm cho những khách thể khách quan. Nghị quyết yêu cầu định kỳ đo lường bằng điều tra xã hội học, đánh giá độc lập mức độ tiếp cận, hiểu và ghi nhớ của người dân đối với thông tin chính thống. Ba chữ “đánh giá độc lập” chấm dứt lối tự chấm điểm mình.

Điểm thứ ba, kết quả đo ấy có sức nặng thật. Nó được dùng làm căn cứ để bố trí nguồn lực và xem xét trách nhiệm người đứng đầu.

Ba điều hợp lại thành một mệnh đề chưa từng có: từ nay, hiệu quả công tác tư tưởng không do người làm công tác tư tưởng tự khai, mà do người dân trả lời.

Hai chữ “hiểu” và “nhớ” trong bộ tiêu chí ấy chính là hai trong bốn động từ Hồ Chí Minh đặt ra từ năm 1947. Bảy mươi chín năm, tiêu chuẩn không đổi một chữ. Cái được bổ sung năm 2026 là cách soi xem tiêu chuẩn ấy đã thành hay chưa.

Có một chi tiết trong Nghị quyết 25 thoạt nhìn tưởng vụn vặt, đọc kỹ mới thấy cả một triết lý.

Cùng một văn bản, cùng một nhóm nhiệm vụ, đặt cạnh nhau hai thứ tưởng chừng ở hai thế giới. Một bên là số hoá, hiện đại hoá hệ thống đài truyền thanh cấp xã, bảng tin, cụm thông tin cổ động, thư viện, tủ sách. Bên kia là nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung liên thông từ Trung ương tới cấp xã, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong giám sát, phát hiện, xác minh, xử lý nội dung vi phạm, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia.

Cái loa treo trên cột điện đầu thôn và đám mây dữ liệu quốc gia, hai thứ ấy nằm trong cùng một đoạn văn. Đó là nhận thức về một thực tế: người Việt Nam hôm nay sống cùng lúc trong hai không gian. Buổi sáng nghe loa xã báo lịch tiêm phòng, buổi tối lướt màn hình đọc tin đồn về chính cái lịch ấy. Chiến lược nào bỏ quên một trong hai không gian đều thất bại.

Nghị quyết gọi tên hai không gian ấy rất gọn, không gian thực và không gian số, rồi yêu cầu tiến hành đồng bộ trên cả hai, ở trong nước và ngoài nước. Đây chính là chỗ dễ hạn chế nhất của mọi chiến lược tư tưởng thời nay. Nghiêng về phía loa phường thì không với tới nơi phần lớn người trẻ đang sống. Nghiêng về phía thuật toán thì mất chỗ đứng chân ở địa bàn dân cư, nơi một buổi ngồi uống nước chè với dân vẫn thuyết phục hơn mọi dòng chữ trên màn hình.

Nguyên tắc giữ cho hai lớp cùng nhịp chỉ vỏn vẹn mấy chữ: một vụ việc, một đầu mối phát ngôn, một bộ thông điệp thống nhất trên cả không gian thực và không gian số.

Mấy chữ ấy nói dễ, làm khó. Ở tốc độ lan truyền hiện nay, chậm nửa buổi là muộn. Muốn bộ thông điệp thống nhất về tới đầu mối cấp xã trước khi khoảng trống thông tin kịp hình thành, phải có đường truyền, có người trực, có quy trình, trên hết là có lòng tin giữa các cấp với nhau. Bởi một hệ thống mà cấp dưới phải chờ xin ý kiến từng câu chữ thì không bao giờ chạy nhanh hơn tin đồn.

Cũng cần nói cho công bằng: cái loa đầu thôn không phải di sản cần bỏ. Trong những ngày bão lũ, khi sóng điện thoại chập chờn và mạng xã hội ngập tin thất thiệt, chính cái loa ấy là tiếng nói đến được với từng nhà. Truyền thống ở đây không phải gánh nặng. Nó là lớp phòng thủ cuối cùng khi lớp hiện đại tạm thời im tiếng.

Muốn biết yêu cầu ấy đặt ở nấc nào, phải có một hệ quy chiếu. Ngành đo lường truyền thông thế giới đã có sẵn.

Bộ nguyên tắc Barcelona, do Hiệp hội Quốc tế về Đo lường và Đánh giá Truyền thông công bố lần đầu năm 2010 và cập nhật năm năm một lần, đi kèm một khung đánh giá phân bốn tầng, xếp theo độ khó tăng dần.

Tầng thứ nhất đếm sản phẩm làm ra: bao nhiêu bài, bao nhiêu lượt phát sóng, bao nhiêu lượt hiển thị. Dễ đo nhất, nói được ít nhất.

Tầng thứ hai đo phản ứng của công chúng khi tiếp nhận: có chú ý không, có nhớ không, có hiểu không.

Tầng thứ ba đo thay đổi thật trong nhận thức, thái độ, niềm tin, ý định hành động.

Tầng thứ tư đo tác động cuối cùng lên mục tiêu của tổ chức.[10]

Đối chiếu thì thấy ngay: lối nghiệm thu cũ của ta không dừng ở tầng thứ nhất, đếm hội nghị và tài liệu. Yêu cầu của Nghị quyết 25 về mức độ tiếp cận, hiểu và ghi nhớ nằm trọn ở tầng thứ hai, chạm sang tầng thứ ba khi văn bản đặt thêm chỉ tiêu về tỉ lệ người dân tin tưởng và chủ động dùng thông tin chính thống.

Đó không phải một thủ tục hành chính được thêm. Đó là bước nhảy về chuẩn nghề, đưa công tác tư tưởng đứng ngang thông lệ đánh giá của thế giới.

Nhưng phép đo nào cũng đã là đầy đủ:

Thứ nhất, tiếp cận không đồng nghĩa với thuyết phục. Một nội dung đập vào mắt hàng triệu người vẫn có thể không ai đọc hết. Đọc hết chưa chắc hiểu. Hiểu chưa chắc tin.

Thứ hai, mốc gốc phải có thật. Chỉ tiêu giảm 70% lấy năm 2026 làm chuẩn so sánh. Năm nay sẽ có rất nhiều việc phải làm.

Thứ ba, người cầm cân phải thật sự khách quan. Ba chữ “đánh giá độc lập” là hàng rào đầu tiên, nhưng đơn vị đo cần công khai và công tâm.

Công tác tư tưởng không đẻ ra được điều gì từ hư không. Nó chỉ thuyết phục được về những điều đang thật sự diễn ra. Một chiến lược tư tưởng ban hành khi thể chế chưa đổi, công nghệ chưa có, kinh tế chưa chuyển, thì rất khó tạo ra sức mạnh vật chất làm thay đổi thực tại.

Mười hai nghị quyết đi trước đã đặt nền móng cho nó. Có luật mới thì mới có chuyện để nói về pháp quyền. Có kinh tế tư nhân được cởi trói thì mới có bằng chứng để nói về đường lối. Có điện đủ dùng, trường lớp khang trang hơn, bệnh viện đỡ chật hơn, thì niềm tin mới có chỗ đặt chân.

Chính Nghị quyết 25 viết điều này ở quan điểm chỉ đạo thứ tư, một câu tự giới hạn hiếm thấy trong văn kiện về tư tưởng: hiệu quả các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chính sách an sinh xã hội là giải pháp trực tiếp để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng.

Nói cách khác, lời nói không thay được việc làm. Chiều ngược lại cũng đúng và Đảng ta nói điều đó đã lâu: công tác tư tưởng phải đi trước một bước. Không có sự thông suốt trong đầu người thì không một nghị quyết kinh tế nào đi được vào cuộc sống. Quan hệ ở đây là hai chiều chứ không phải một chiều. Trong một công trình, phần lắp cuối thường là phần nối các cấu kiện lại thành một khối. Mười hai nghị quyết trước tạo ra mười hai nguồn lực.Cái gì bảo đảm mười hai nguồn lực ấy tự cộng lại thành sức mạnh? Cái làm chúng cộng được là sự đồng lòng.

Bảy trăm năm trước, khi được hỏi vì sao ba lần đánh tan quân Nguyên, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn không nhắc tới quân số, không nhắc tới vũ khí. Ông nói: “Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức.”[11]

Điều đáng trọng nhất ở Nghị quyết 25, xét về khí chất, là nó không mở đầu bằng thành tích. Sau mấy dòng ghi công bốn mươi năm đổi mới, văn bản quay ngay sang phần hạn chế, nói bằng thứ ngôn ngữ không hề nương nhẹ. Một số cấp uỷ, người đứng đầu còn “khoán trắng” cho cơ quan chuyên trách. Tư duy “quản lý thông tin” còn phổ biến. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng có lúc chưa sắc bén, lực lượng còn mỏng, công cụ kỹ thuật chưa đồng bộ. Công tác tư tưởng ở cơ sở chưa theo kịp yêu cầu sau sắp xếp bộ máy.

Rồi đến câu thẳng thắn nhất, chỉ rõ nguyên nhân: chưa có bộ tiêu chí thống nhất để đo lường, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng. Và nguyên nhân gốc, gọn một dòng: chưa có chiến lược tổng thể về công tác tư tưởng. Bốn mươi năm là quãng đủ dài để khoảng trống ấy đóng thành nếp. Dám gọi tên chỗ hổng ấy ra, trong một văn bản của Bộ Chính trị phổ biến đến tận chi bộ, tự nó đã là một hành vi của công tác tư tưởng.

Sức nặng của Nghị quyết không chỉ ở những chủ trương lớn mà còn ở những con số. Năm 2028, Ban Tuyên giáo Trung ương sơ kết. Năm 2030, có chỉ tiêu để đối chiếu. Trước đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XV của Đảng, sẽ có tổng kết. Ba kỳ kiểm đếm ấy là thật, không phải ba dịp lễ.

Marx chỉ ra tư tưởng thuộc về ai. Lenin chỉ ra tư tưởng phải được tổ chức. Hồ Chí Minh xếp tư tưởng thông suốt lên trước cả kế hoạch, tổ chức và huấn luyện.

Hơn một trăm tám mươi năm trước, khi còn rất trẻ, Marx đã viết một câu mà mọi cuộc vận động tư tưởng đều phải lấy làm thước: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng.”[13]

Cũng trong đoạn ấy, ông nói rõ điều kiện để thâm nhập: lý luận phải triệt để. “Triệt để có nghĩa là hiểu được sự vật đến tận gốc rễ của nó. Nhưng gốc rễ của con người chính là bản thân con người.”

Đó là chỗ mà một nghị quyết về tư tưởng thành hay bại. Không phải ở số hội nghị đã mở, không phải ở số tài liệu đã in. Mà ở chỗ những điều viết trong đó có đi được vào đầu cán bộ và người dân, có biến thành việc người dân làm hay không.

Trong chuỗi mười ba nghị quyết, nghị quyết này thành công khi nó đi vào con tim, khối óc, đi vào trong lòng dân, nơi mà bảy trăm năm trước Trần Quốc Tuấn đã gọi là kế sâu rễ bền gốc.

[2] V.I.Lênin: Làm gì?, 1902, chương Tính tự phát của quần chúng và tính tự giác của đảng dân chủ xã hội. Lênin toàn tập, tập 6, tr.36-37. Bản md hoá trong kho: LENIN-Tap-06.md, dòng 1859-1935.

[3] Hồ Chí Minh: Người tuyên truyền và cách tuyên truyền, 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr.191. Bản md hoá trong kho: HCM-Tap-05.md, dòng 4812-4815.

[4] Hồ Chí Minh: bài về đẩy mạnh phong trào du kích, phần biết ta. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr.389. Bản md hoá trong kho: HCM-Tap-08.md, dòng 10279-10281.

[5] Walter Lippmann: Public Opinion, Harcourt Brace, 1922, chương 1. Toàn văn thuộc phạm vi công cộng tại gutenberg.org, mã tác phẩm 6456, truy cập 29/8/2026.

[6] Antonio Gramsci: Sổ tay nhà tù, công thức về nhà nước và bá quyền. Dẫn theo bản tuyển tại marxists.org và mục từ Gramsci trên Stanford Encyclopedia of Philosophy, truy cập 29/8/2026.

[7] Joseph S. Nye: Bound to Lead, 1990 và Soft Power, 2004.

[8] Thiếu tướng, GS. Bùi Phan Kỳ, Viện Chiến lược Quốc phòng, Bộ Quốc phòng: bài phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô. Trong sách Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá, tr.63-68. Bản md hoá trong kho, dòng 1862-1930.

[9] Lời Tổng thống Mỹ R.Nixon, dẫn theo Bùi Phan Kỳ, sách đã dẫn, tr.64.

[10] Hiệp hội Quốc tế về Đo lường và Đánh giá Truyền thông: bộ nguyên tắc Barcelona công bố 2010, bản 3.0 năm 2020, cùng khung đánh giá tích hợp bốn tầng. Nguồn cấp một tại amecorg.com, truy cập 29/8/2026.

[11] Lời Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đại Việt sử ký toàn thư, bản md hoá trong kho, dòng 5784. Câu về khoan thư sức dân đối chiếu tại Danh nhân đất Việt, dòng 120.

[12] C.Mác, nguồn đã dẫn ở chú thích trước, cùng dòng 3247.

[13] C.Mác: Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu, 1844. Mác Ăngghen toàn tập, tập 1. Bản md hoá trong kho: MACANGGHEN-Tap-01.md, dòng 3247.

TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.