Tận dụng lợi thế “người đi sau”
Tại cuộc họp triển khai Trung tâm Tài chính quốc tế ngày 2/6/2026, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương xây dựng danh mục sản phẩm và dịch vụ tài chính trọng điểm cho hai trung tâm tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng. Đây được xem là nền tảng quyết định hiệu quả hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh của các trung tâm trong tương lai.
Thực tế cho thấy, lịch sử phát triển các trung tâm tài chính hàng đầu thế giới đều chứng minh một quy luật: Không có trung tâm nào thành công nhờ sao chép mô hình của trung tâm khác.
Singapore trở thành cửa ngõ quản lý tài sản và ngân hàng tư nhân của châu Á; Hong Kong (Trung Quốc) là trung tâm huy động vốn quốc tế cho doanh nghiệp Trung Quốc; Dubai phát triển mạnh tài chính Hồi giáo và logistics xuyên lục địa; còn London giữ vai trò trung tâm ngoại hối và bảo hiểm toàn cầu.
Trong khi đó, Việt Nam bước vào cuộc chơi muộn hơn hàng chục năm. Nếu chỉ lặp lại các sản phẩm truyền thống đã bão hòa ở các trung tâm tài chính lớn, khả năng cạnh tranh sẽ rất hạn chế. Điều cần thiết là phải tận dụng lợi thế “người đi sau” để thiết kế những sản phẩm phục vụ đúng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nói cách khác, hai Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam không nên chỉ là nơi mua bán các công cụ tài chính đơn thuần, mà phải trở thành “cỗ máy” dẫn vốn cho hạ tầng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế.
TP. Hồ Chí Minh nên trở thành trung tâm vốn doanh nghiệp và tài sản xanh: Hiện là đầu tàu kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 22 - 23% GDP và hơn 25% tổng thu ngân sách quốc gia. Đây cũng là nơi tập trung phần lớn các định chế tài chính, quỹ đầu tư và doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Vì vậy, nếu TP. Đà Nẵng được định vị theo hướng công nghệ tài chính, thì TP. Hồ Chí Minh nên tập trung vào vai trò trung tâm huy động và phân bổ vốn quy mô lớn cho nền kinh tế.

Sản phẩm cốt lõi đầu tiên cần được ưu tiên là trái phiếu hạ tầng và trái phiếu xanh quốc tế.
Việt Nam đang đứng trước nhu cầu vốn khổng lồ cho các dự án đường sắt tốc độ cao, cảng biển, sân bay, năng lượng tái tạo, chuyển đổi xanh và nhà ở xã hội. Theo nhiều tính toán, nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng trong thập niên tới có thể lên tới hàng trăm tỷ USD. Trong khi ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng đều có giới hạn, thị trường trái phiếu quốc tế chính là kênh huy động vốn dài hạn hiệu quả nhất.
Nếu TP. Hồ Chí Minh xây dựng được nền tảng phát hành trái phiếu số xuyên biên giới, gắn với chuẩn ESG quốc tế, dòng vốn từ các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư xanh và các định chế tài chính toàn cầu có thể được kết nối trực tiếp với các dự án hạ tầng chiến lược của Việt Nam như một sản phẩm chủ lực của trung tâm tài chính TP. Hồ Chí Minh.
Sản phẩm chiến lược thứ hai là thị trường tài sản số hóa gắn với đổi mới sáng tạo. Điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp khởi nghiệp hiện nay không phải ý tưởng mà là khả năng tiếp cận vốn. Hàng nghìn sáng chế, phần mềm, công nghệ và tài sản trí tuệ đang nằm ngoài hệ thống tài chính truyền thống vì khó định giá và thiếu cơ chế giao dịch.
Một trung tâm tài chính quốc tế hiện đại cần tạo ra cơ chế chứng khoán hóa hoặc token hóa tài sản trí tuệ, giúp các doanh nghiệp công nghệ huy động vốn từ nhà đầu tư toàn cầu thay vì chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng.
Sản phẩm thứ ba là sàn giao dịch hàng hóa và tín chỉ carbon quốc tế. Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, thủy sản nhưng quyền định giá phần lớn vẫn nằm ở các sàn giao dịch nước ngoài. Nếu xây dựng thành công thị trường giao dịch nông sản và tín chỉ carbon quốc tế, TP. Hồ Chí Minh không chỉ thu hút dòng vốn mà còn nâng cao quyền lực định giá cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Còn TP. Đà Nẵng cần trở thành “phòng thí nghiệm” Fintech của khu vực:Khác với TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng không có lợi thế về quy mô thị trường vốn nhưng lại sở hữu nền tảng công nghệ số, nguồn nhân lực chất lượng cao và vị trí chiến lược trên Hành lang kinh tế Đông - Tây. Do đó, hướng đi hợp lý nhất là xây dựng TP. Đà Nẵng thành trung tâm Fintech, ngân hàng số và dịch vụ tài chính xuyên biên giới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều trung tâm tài chính thành công không phải nhờ quy mô nền kinh tế, mà nhờ khả năng thử nghiệm các mô hình mới. Dubai thành công với tài chính Hồi giáo; Luxembourg nổi tiếng về quỹ đầu tư xuyên biên giới; Estonia trở thành biểu tượng chính phủ số và định danh điện tử toàn cầu. TP. Đà Nẵng có thể lựa chọn con đường tương tự.
Một trong những sản phẩm có tiềm năng lớn là ngân hàng số hải ngoại (Offshore Digital Banking). Đây là mô hình cho phép cung cấp dịch vụ tài chính xuyên biên giới, thanh toán quốc tế thời gian thực, quản lý dòng vốn và các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp FDI và nhà đầu tư quốc tế như một sản phẩm chiến lược của IFC Đà Nẵng.
Bên cạnh đó là trung tâm thanh toán số quốc tế, dịch vụ tài chính cho thương mại điện tử xuyên biên giới, RegTech, SupTech, Sandbox Fintech và các nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro tài chính.
Nếu TP. Hồ Chí Minh đóng vai trò “cỗ máy vốn” của nền kinh tế, thì TP. Đà Nẵng nên trở thành “phòng thí nghiệm công nghệ tài chính” của Việt Nam và khu vực ASEAN.
Thành công của hai trung tâm sẽ được quyết định bởi sản phẩm, không phải ưu đãi
Nhiều quốc gia từng xây dựng trung tâm tài chính với kỳ vọng lớn nhưng không tạo được dấu ấn vì thiếu sản phẩm khác biệt. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, ưu đãi thuế chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phải có hệ sinh thái sản phẩm đủ hấp dẫn để các dòng vốn quốc tế nhìn thấy cơ hội sinh lời dài hạn.
Đối với Việt Nam, lợi thế lớn nhất không phải là quy mô thị trường tài chính hiện tại, mà là nhu cầu vốn khổng lồ cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế biển. Nếu biết biến những nhu cầu đó thành các sản phẩm tài chính hiện đại, có tính quốc tế hóa cao, TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng hoàn toàn có cơ hội trở thành những mắt xích mới trên bản đồ tài chính toàn cầu.
Bởi suy cho cùng, một trung tâm tài chính quốc tế thành công không phải nơi có nhiều định chế tài chính nhất, mà là nơi giải quyết được những bài toán vốn lớn nhất của nền kinh tế.
Theo các chuyên gia tài chính quốc tế, Việt Nam không nên xây dựng hai trung tâm theo mô hình giống nhau, bởi điều này sẽ tạo ra sự cạnh tranh nội bộ và làm phân tán nguồn lực.
TP. Hồ Chí Minh nên tập trung vào 4 nhóm sản phẩm cốt lõi: Trái phiếu hạ tầng và trái phiếu xanh quốc tế; Trung tâm quản lý quỹ và huy động vốn dài hạn; Thị trường tài sản số hóa và tài sản trí tuệ; Sàn giao dịch hàng hóa và tín chỉ carbon.
Còn TP. Đà Nẵng nên tập trung vào 4 nhóm sản phẩm chiến lược: Ngân hàng số hải ngoại; Thanh toán quốc tế và ngoại hối số; Sandbox Fintech và RegTech; Dịch vụ tài chính cho thương mại điện tử xuyên biên giới.
Dẫn kinh nghiệp quốc tế, GS, TS. Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, Singapore thành công nhờ quản lý tài sản và trung tâm vốn quốc tế; Hong Kong thành công nhờ huy động vốn cho doanh nghiệp Trung Quốc; Dubai thành công nhờ tài chính Hồi giáo và logistics; Luxembourg thành công nhờ quỹ đầu tư xuyên biên giới và Estonia thành công nhờ định danh số và chính phủ số.
Bài học chung là mỗi trung tâm phải có một “sản phẩm biểu tượng” riêng. Với Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách hiện nay không phải là xây thêm cơ sở vật chất, mà là nhanh chóng xác định hệ sản phẩm chiến lược đủ khác biệt, đủ quy mô và đủ sức hấp dẫn để kéo dòng vốn toàn cầu đến với TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng trong thập niên tới.