Thu hẹp khoảng cách cung - cầu nhân lực
Chia sẻ tại tọa đàm “Bất động sản công nghiệp phía Nam: Đón làn sóng FDI công nghệ cao và kiến tạo hệ sinh thái sản xuất mới”, do Báo Công Thương tổ chức sáng 25/9 tại TP. Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (IUH), cho rằng nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ cao đang thiếu so với nhu cầu của doanh nghiệp.
Theo TS. Nguyễn Trung Nhân, IUH có quy mô đào tạo lớn và mỗi năm đóng góp khoảng 2% nguồn nhân lực được đào tạo cho thị trường lao động. Từ năm 2000 đến nay, trường đã cung cấp khoảng 220.000 lao động cho thị trường, trong đó khoảng 120.000 người có trình độ đại học trở lên.
Trong bối cảnh Việt Nam định hướng phát triển công nghệ, sản phẩm số và các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhu cầu nhân lực kỹ thuật tại các khu công nghiệp ngày càng lớn. Đây cũng là yêu cầu đặt ra khi Việt Nam thu hút các dự án FDI có hàm lượng công nghệ cao, đòi hỏi lực lượng kỹ sư, kỹ thuật viên được đào tạo bài bản.“Đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, chúng ta không thể có vị trí cho lao động phổ thông”, TS. Nguyễn Trung Nhân nhấn mạnh.
Theo TS. Nguyễn Trung Nhân, một trong những vấn đề cần quan tâm là tăng kết nối giữa trường đại học, khu công nghiệp, cơ quan quản lý và doanh nghiệp để xác định đúng nhu cầu nhân lực.
Thực tế, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhân lực kỹ thuật nhưng sự phối hợp với cơ sở đào tạo chưa phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu về thời điểm, số lượng và chuyên môn. Có những lĩnh vực doanh nghiệp cần nhân lực phục vụ thi công, lắp đặt, điều chỉnh thiết bị nhưng nhà trường chưa thể đáp ứng ngay.
TS. Nguyễn Trung Nhân cho rằng doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, góp ý chương trình, tiếp nhận sinh viên thực tập đến tuyển dụng và đặt hàng đào tạo. Khi doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư dự án, việc xác định sớm nhu cầu nhân lực sẽ giúp nhà trường chủ động chuẩn bị nguồn cung. Đồng thời, doanh nghiệp có thể phối hợp với trường đại học theo kế hoạch dài hạn, thay vì chỉ thông báo nhu cầu khi dự án đã triển khai.
“Doanh nghiệp có thể làm việc với các trường, đặt hàng lâu dài hơn, thay vì khi cần mới thông báo”, TS. Nguyễn Trung Nhân nói.
Về phía các trường đại học, TS. Nguyễn Trung Nhân cho biết chương trình đào tạo được rà soát, điều chỉnh theo yêu cầu mới. Nhà trường cũng đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại và tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình cải tiến chương trình.
Việc cập nhật chương trình cần được thực hiện linh hoạt để theo kịp sự thay đổi nhanh của công nghệ và nhu cầu thị trường lao động. Người học sau khi tốt nghiệp phải có kiến thức, kỹ năng phù hợp với môi trường sản xuất thực tế.
Chuẩn bị nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược
TS. Nguyễn Trung Nhân cho rằng yêu cầu nâng tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong các dự án FDI chất lượng cao đặt ra nhu cầu lớn về nhân lực.
Trong đó, các ngành bán dẫn, điện tử, tự động hóa đang cần lực lượng kỹ sư, kỹ thuật viên được đào tạo chuyên sâu. Để đáp ứng yêu cầu này, công tác đào tạo cần gắn với định hướng phát triển các ngành công nghệ chiến lược và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
IUH chú trọng đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu nhân lực bán dẫn, điện tử và tự động hóa của doanh nghiệp.
Theo TS. Nguyễn Trung Nhân, nếu Việt Nam muốn tăng sự tham gia của đội ngũ kỹ sư trong nước vào quá trình sản xuất, cần có nguồn nhân lực đủ năng lực tham gia từ khâu thiết kế đến sản xuất. Thực tế, Việt Nam đã có đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhưng lực lượng này chưa đủ mạnh và chuyên sâu để đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp công nghệ cao.
Một trong những nguyên nhân được TS. Nguyễn Trung Nhân đề cập là việc đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Vì vậy, đầu tư cho đào tạo các ngành khoa học, công nghệ và công nghệ cao cần tiếp tục được quan tâm, qua đó thu hút học sinh giỏi tham gia.
TS. Nguyễn Trung Nhân cho rằng, khi nguồn nhân lực được đào tạo đủ về số lượng và nâng cao về chất lượng, người lao động Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tham gia vào những vị trí có yêu cầu chuyên môn cao trong doanh nghiệp FDI.
Đây cũng là yêu cầu gắn với định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc. Theo TS. Nguyễn Trung Nhân, các dự án công nghệ cao cần được đặt trong hệ sinh thái gồm hạ tầng, nhân lực và năng lực công nghệ phù hợp.
Vì vậy, phát triển khu công nghiệp cần gắn với chuẩn bị nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ phục vụ các ngành sản xuất có yêu cầu cao. Việc này cần được tính toán từ sớm để tránh tình trạng doanh nghiệp có dự án nhưng thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu.
Tăng hợp tác đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao
Về hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, TS. Nguyễn Trung Nhân cho biết IUH có hơn 2.000 cán bộ, giảng viên và đang có hoạt động hợp tác với nhiều doanh nghiệp.
Một số doanh nghiệp lớn đến từ Mỹ, Đài Loan (Trung Quốc) và châu Âu đã tham gia hỗ trợ nhà trường thông qua góp ý, tài trợ thiết bị, sản phẩm phục vụ đào tạo, nghiên cứu và hỗ trợ sinh viên.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Trung Nhân cho rằng mức độ tham gia sâu của doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu, phát triển vẫn còn hạn chế. Các cơ chế để doanh nghiệp đặt hàng nhà trường đào tạo, nghiên cứu theo nhu cầu cụ thể chưa được triển khai đầy đủ.
Quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được phát triển theo hướng thực chất hơn. Doanh nghiệp có thể tham gia từ khâu xác định nhu cầu nhân lực, góp ý chương trình đào tạo, hỗ trợ thiết bị đến đặt hàng đào tạo và nghiên cứu.
Đối với hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, sự tham gia của doanh nghiệp có ý nghĩa trong việc đưa các vấn đề thực tế từ sản xuất vào nhà trường. Qua đó, hoạt động đào tạo và nghiên cứu có thêm cơ sở gắn với yêu cầu của thị trường.
TS. Nguyễn Trung Nhân cho biết, nhà trường hiện cũng có hoạt động phối hợp, hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao năng lực. Đây là một hướng kết nối nhằm chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực.
Để nâng cao năng lực công nghệ, cần phát triển đồng thời đào tạo, nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có nhu cầu cụ thể và cơ sở đào tạo có khả năng đáp ứng, hai bên sẽ hình thành mối quan hệ hữu cơ hơn trong phát triển nguồn nhân lực và công nghệ.
TS. Nguyễn Trung Nhân cũng cho rằng chính sách thu hút đầu tư cần gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong nước. Khi các dự án FDI công nghệ cao đặt ra yêu cầu về sử dụng lao động Việt Nam, đây là cơ hội để đội ngũ kỹ sư trong nước tiếp cận công nghệ, tham gia sâu hơn vào quá trình sản xuất và từng bước đảm nhiệm các vị trí quan trọng.
Sự kết nối giữa chính sách lựa chọn nhà đầu tư, yêu cầu đối với dự án, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần được thực hiện đồng bộ. Đây là cơ sở để hình thành đội ngũ nhân lực công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành bán dẫn, điện tử, tự động hóa và những lĩnh vực công nghệ chiến lược. Qua đó, Việt Nam có thêm điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ và tăng mức độ tham gia của nhân lực trong nước trong các dự án FDI công nghệ cao.