Chủ nhật, 30/08/2026

Tín dụng mở đường cho kinh tế biển

Ngành Ngân hàng vừa ban hành kế hoạch hành động mới, ưu tiên dòng vốn cho hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới.

Tín dụng mở đường cho kinh tế biển — Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ưu tiên vốn cho những ngành kinh tế biển mới

Ngày 26/8/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Quyết định số 1941/QĐ-NHNN về Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, với mục tiêu góp phần xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết 218/NQ-CP được Chính phủ ban hành ngày 7/8/2026.

Điểm đáng chú ý là kế hoạch không chỉ dừng ở định hướng chung về hỗ trợ vốn. Các nhiệm vụ được đặt ra khá cụ thể, từ rà soát cơ chế, chính sách; điều hành tiền tệ, tín dụng; phát triển sản phẩm ngân hàng đến mở rộng dịch vụ tài chính tại khu vực biển, đảo.

Theo Kế hoạch hành động, NHNN yêu cầu tiếp tục rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động ngân hàng nhằm tạo điều kiện mở rộng tín dụng và nâng cao khả năng tiếp cận vốn, sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng đầu tư phát triển kinh tế biển.

Về điều hành, chính sách tiền tệ tiếp tục được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, qua đó tạo môi trường ổn định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư, trong đó có các ngành kinh tế biển.

kinh-te-bien.jpeg
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Đáng chú ý hơn là định hướng đối với dòng vốn tín dụng. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu cân đối nguồn vốn, quan tâm đầu tư tín dụng vào các lĩnh vực biển quan trọng như dầu khí, hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp ven biển, du lịch biển, dịch vụ biển, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới.

Danh mục này cho thấy hướng dịch chuyển trong tư duy phát triển kinh tế biển. Nếu trước đây, tín dụng liên quan đến biển thường gắn nhiều với khai thác thủy sản, đóng tàu hay các hoạt động sản xuất, kinh doanh truyền thống, thì nhu cầu vốn hiện nay đã mở rộng sang những lĩnh vực có quy mô đầu tư lớn và hàm lượng công nghệ cao hơn.

Điện gió ngoài khơi cần nguồn vốn dài hạn. Hạ tầng cảng biển và logistics đòi hỏi những khoản đầu tư lớn cùng thời gian hoàn vốn kéo dài. Nuôi biển công nghiệp lại cần vốn cho công nghệ, thiết bị, giống, thức ăn, hệ thống giám sát và chế biến.

Vì vậy, bài toán đặt ra với ngân hàng không chỉ là tăng dư nợ mà còn là thiết kế phương thức cấp vốn phù hợp hơn.

Kế hoạch yêu cầu các tổ chức tín dụng nghiên cứu, phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng, đồng thời rà soát, cải tiến và đổi mới quy trình, thủ tục cấp tín dụng phù hợp với yêu cầu và thực tiễn hoạt động của từng ngành, lĩnh vực kinh tế biển.

Đây có thể là khâu có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực thi chính sách.

Bởi một dự án cảng biển không thể được thẩm định giống một khoản vay thương mại thông thường. Một mô hình nuôi biển công nghiệp cũng có đặc điểm khác với hoạt động nuôi trồng nhỏ lẻ ven bờ.

Theo đó, hướng đi cần được tính đến là tăng cường đánh giá dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi giá trị thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm. Với những dự án lớn, cơ chế đồng tài trợ, tài trợ dự án và sự phối hợp giữa các định chế tài chính sẽ trở nên quan trọng hơn.

Đối với lĩnh vực nuôi biển, Kế hoạch tiếp tục nhấn mạnh việc triển khai các chương trình tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, trong đó có nuôi biển xa bờ, nuôi biển công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao, tạo điều kiện để ngư dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi tiếp cận vốn.

Song song với tín dụng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục được tạo điều kiện triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi trong giai đoạn 2026-2030 đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó có ngư dân và cư dân vùng biển, hải đảo, vùng khó khăn.

Không chỉ đưa vốn ra biển mà phải đưa ngân hàng ra biển

Một trong những điểm đáng chú ý của kế hoạch mới là phạm vi giải pháp không dừng lại ở tín dụng.

NHNN yêu cầu ngành Ngân hàng triển khai các nhiệm vụ liên quan đến phát triển khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu đô thị biển và khu đô thị lấn biển. Cùng với đó là phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đa dạng theo chuẩn mực quốc tế và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trên nền tảng công nghệ hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống.

Yêu cầu này phù hợp với một thực tế: Kinh tế biển hiện đại không chỉ cần vốn đầu tư mà cần cả một hệ sinh thái dịch vụ tài chính.

Các trung tâm logistics, cảng biển, khu thương mại tự do hay đô thị biển thế hệ mới đều kéo theo nhu cầu lớn về thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, quản lý dòng tiền, ngoại hối, ngân hàng số và các sản phẩm tài chính chuyên biệt.

Tại khu vực biển, đảo, việc phát triển ngân hàng số còn có một ý nghĩa khác: giảm khoảng cách địa lý trong tiếp cận dịch vụ tài chính.

Việc chuyển đổi số, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại các khu vực ven biển, cảng cá và hải đảo có thể giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch của dòng tiền và từng bước tạo lập dữ liệu phục vụ hoạt động thẩm định tín dụng.

Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành Ngân hàng đang từng bước chuyển đổi phương thức đánh giá khách hàng, kết hợp ngày càng nhiều dữ liệu về dòng tiền, hoạt động kinh doanh và lịch sử giao dịch.

Kế hoạch cũng yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN chủ động nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động ngân hàng tại địa bàn, đặc biệt là khu vực hải đảo và ven biển; kịp thời báo cáo, đề xuất xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách phát sinh trong thực tế.

Đây là yêu cầu quan trọng bởi tín dụng cho kinh tế biển vẫn đang đối mặt với nhiều vấn đề đặc thù: Rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu, thời gian hoàn vốn dài, giá trị tài sản biến động và những vướng mắc liên quan đến tài sản, quyền khai thác.

Nếu những rủi ro này chỉ được đặt lên vai ngân hàng, khả năng mở rộng tín dụng sẽ bị giới hạn.

Do đó, cùng với vốn ngân hàng, kinh tế biển cần thêm cơ chế bảo hiểm, bảo lãnh và chia sẻ rủi ro. Đặc biệt với những lĩnh vực mới như nuôi biển công nghiệp và năng lượng tái tạo ngoài khơi, việc kết nối tín dụng ngân hàng với các nguồn vốn xanh và nguồn lực tài chính quốc tế sẽ là một hướng đi cần được thúc đẩy.

Kế hoạch hành động lần này vì thế có thể được xem là bước chuyển từ chủ trương hỗ trợ từng lĩnh vực sang tổ chức lại các công cụ tài chính phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển.

Thách thức tiếp theo nằm ở khâu triển khai, dòng vốn sẽ không tự động chảy vào biển chỉ vì một lĩnh vực được đưa vào danh mục ưu tiên. Điều doanh nghiệp cần là sản phẩm tín dụng phù hợp. Điều ngân hàng cần là dự án khả thi và cơ chế quản trị rủi ro rõ ràng. Còn điều nền kinh tế cần là sự kết nối giữa tín dụng, quy hoạch, hạ tầng, bảo hiểm và thị trường.

Khi những mắt xích này được kết nối, tín dụng ngân hàng mới có thể vượt khỏi vai trò của một nguồn vốn đơn thuần để trở thành lực đẩy thực sự cho không gian tăng trưởng mới của kinh tế biển.

PGS,TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng nêu quan điểm, tín dụng cho kinh tế biển cần chuyển từ hỗ trợ vốn sang tài trợ cho cả chuỗi giá trị. Bởi lẽ kinh tế biển có đặc điểm vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài và mức độ rủi ro cao. Vì vậy, chỉ giảm lãi suất chưa đủ để khơi thông dòng vốn. Điều quan trọng hơn là xây dựng các sản phẩm tín dụng phù hợp với từng lĩnh vực; tăng đánh giá dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi liên kết.

Với những ngành mới như điện gió ngoài khơi hay nuôi biển công nghiệp, cần cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm. Khi rủi ro được phân bổ hợp lý, dòng vốn dài hạn mới có điều kiện chảy mạnh hơn vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mới.

Theo Quyết định 1941/QĐ-NHNN ngày 26/8/2026ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết 218/NQ-CP.Các lĩnh vực được quan tâm đầu tư tín dụng:Dầu khí, hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp ven biển, du lịch và dịch vụ biển, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới.Đổi mới tiếp cận vốn:Phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng; cải tiến quy trình, thủ tục cấp tín dụng phù hợp với đặc thù từng ngành kinh tế biển.Hỗ trợ khu vực biển, đảo:Đẩy mạnh ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính.Phát triển bền vững:Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ thuộc Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, góp phần thúc đẩy kinh tế biển xanh.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.