Sáng 14/8, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, Viện Tư vấn và Phát triển, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tổ chức Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 - “Từ chính sách đến hành động”.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết, khung pháp lý về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon cơ bản đã được hình thành và tiếp tục hoàn thiện. Một dấu mốc quan trọng là ngày 29/6/2026, sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành thí điểm, tạo nền tảng trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
thu-truong-bo-nong-nghiep-va-moi-truong-le-cong-thanh-nhin-nhan-thi-truong-carbon-van-la-linh-vuc-moi-doi-voi-viet-nam.jpg

Trong giai đoạn thí điểm, các cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định và quản trị dữ liệu, hướng tới đưa thị trường carbon vào thực tiễn một cách minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm.
Doanh nghiệp không thể chỉ mua tín chỉ để bù phát thải
Ông Nguyễn Thành Công, Trưởng phòng Thị trường, Cục Biến đổi khí hậu cho biết, giai đoạn thí điểm trước mắt áp dụng với khoảng 150 doanh nghiệp phát thải lớn thuộc ba lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng. Hạn ngạch phát thải được phân bổ miễn phí 100%.
Nếu phát thải vượt hạn ngạch, doanh nghiệp có thể mua thêm hạn ngạch từ đơn vị còn dư hoặc sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ, nhưng lượng tín chỉ không vượt quá 30% hạn ngạch được phân bổ. Doanh nghiệp cũng được vay tối đa 15% hạn ngạch của giai đoạn kế tiếp.
Ngược lại, doanh nghiệp đầu tư công nghệ và phát thải thấp hơn hạn ngạch được phân bổ có thể bán lượng hạn ngạch còn dư hoặc chuyển sang giai đoạn tiếp theo.
Cơ chế này buộc doanh nghiệp phải cân nhắc giữa đầu tư giảm phát thải và chi phí mua hạn ngạch, tín chỉ khi phát thải vượt mức được phân bổ.
Theo ông Trần Trọng Kiên, Phó Giám đốc Phòng Thị trường chứng khoán phái sinh - HNX, ngày 29/6/2026, sàn giao dịch carbon chính thức hoạt động tại HNX với hai loại hàng hóa là hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.
Đối với hạn ngạch phát thải, chỉ các cơ sở, tổ chức được Nhà nước phân bổ hạn ngạch mới có quyền giao dịch. Với tín chỉ carbon, các tổ chức hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có thể tham gia thông qua các thành viên giao dịch là công ty chứng khoán.
Hiện đã có 6 công ty chứng khoán trở thành thành viên giao dịch carbon. Sàn áp dụng phương thức giao dịch thỏa thuận, trong đó hai bên tự thương lượng và thống nhất điều kiện trước khi nhập lệnh.
Trong ngày giao dịch đầu tiên, tổng khối lượng hạn ngạch đã đăng ký khoảng hơn 510 triệu tấn, trong đó hơn 1.200 tấn CO₂e được giao dịch với tổng trị giá hơn 161 triệu đồng. Hệ thống đăng ký quốc gia ghi nhận 92 tổ chức tham gia, chủ yếu thuộc các lĩnh vực thép, xi măng và nhiệt điện.

Cùng với sàn giao dịch, hệ thống lưu ký và thanh toán cũng từng bước được hoàn thiện. Bà Tạ Thanh Bình, Tổng Giám đốc Công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), cho biết HNX đảm nhận tổ chức giao dịch, còn VSDC chịu trách nhiệm lưu ký và thanh toán sau giao dịch.
Thị trường áp dụng chu kỳ thanh toán T+0, tức việc chuyển quyền sở hữu tín chỉ carbon và thanh toán tiền được thực hiện ngay trong ngày giao dịch.
Doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nguồn thu từ carbon
Bà Phạm Liên Anh, Trưởng Chương trình Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia của IFC cho biết, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải nhưng chưa nhận diện được khả năng tạo tín chỉ carbon từ những hoạt động này.
Doanh nghiệp muốn tham gia thị trường trước hết phải xác định lượng phát thải, nguồn phát thải chính và khả năng đo lường, giám sát, báo cáo, thẩm định (MRV). Tuy nhiên, năng lực MRV của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, trong khi việc số hóa dữ liệu mới ở bước đầu. Doanh nghiệp cũng cần xác định dự án nào có khả năng giảm phát thải và phát triển thành tín chỉ carbon, đồng thời xác định thị trường mục tiêu, từ thị trường tự nguyện, tuân thủ, trong nước đến chuyển giao quốc tế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris.
Đại diện IFC cho rằng carbon cần được tích hợp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và chiến lược dài hạn, bởi quản trị carbon ngày càng gắn với năng lực cạnh tranh, thị trường xuất khẩu, tín dụng và tài chính xanh.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển (CODE), dẫn dự báo của Ngân hàng Thế giới và cho rằng mức giá khoảng 147 USD/tấn carbon có thể tạo tác động đủ lớn tới quyết định của các chủ thể phát thải.
Khi giá carbon còn thấp, sức ép kinh tế để doanh nghiệp thay đổi công nghệ và đầu tư giảm phát thải chưa đủ mạnh. Vì vậy, thị trường không chỉ cần tạo nơi mua bán tín chỉ mà phải hình thành tín hiệu giá đủ sức tác động đến hành vi của bên phát thải và thanh khoản cũng là vấn đề cần tính toán ngay trong giai đoạn thí điểm.
TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng nếu hạn ngạch được phân bổ quá dễ dàng, nhu cầu mua trên thị trường sẽ thấp. Ngược lại, phân bổ hạn ngạch chặt chẽ hơn sẽ buộc doanh nghiệp phải mua lượng còn thiếu, qua đó thúc đẩy giao dịch.
Thanh khoản còn phụ thuộc vào sự tham gia của nhà đầu tư, khả năng kết nối quốc tế và mặt bằng lãi suất. Nếu thị trường hoạt động èo uột, động lực chuyển đổi xanh cũng có thể bị suy giảm.
Cơ hội từ CBAM
Ở góc độ quốc tế, ông Neeraj Roshi, Trưởng nhóm khu vực về Biến đổi Khí hậu, Khối Tư vấn Quốc gia và Kinh tế, khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP), IFC cập nhật những diễn biến liên quan đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU).
ong-neeraj-roshi-truong-nhom-khu-vuc-ve-bien-doi-khi-hau-khoi-tu-van-quoc-gia-kinh-te-khu-vuc-dong-a-thai-binh-duong-eap-ifc..jpg

Theo ông, CBAM yêu cầu các nhà nhập khẩu vào châu Âu cung cấp chứng nhận về lượng phát thải carbon gắn với hàng hóa nhập khẩu. EU đã tổ chức hai đợt đấu giá vào tháng 4 và tháng 7, với chi phí tuân thủ hiện khoảng 75 euro/tấn CO₂e.
Nếu EU chính thức cho phép sử dụng một tỷ lệ tín chỉ carbon để bù trừ nghĩa vụ CBAM, đây có thể trở thành nguồn cầu mới cho thị trường tín chỉ carbon quốc tế, trong đó có Việt Nam.
Việt Nam cũng đang có những chuyển động với thị trường carbon trong nước, khả năng giao dịch tín chỉ theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris và cơ hội đưa tín chỉ ra thị trường quốc tế.
Theo Cục Biến đổi khí hậu, Việt Nam đã có hàng trăm dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) được cấp tín chỉ; một số dự án đang chuyển đổi sang cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris. Việt Nam cũng có hơn 10 dự án theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và nhiều dự án theo các tiêu chuẩn carbon khác.
Hiện có khoảng 30 tổ chức đáp ứng yêu cầu về chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng. Đây là mắt xích quan trọng bởi lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và chứng nhận trước khi trở thành tín chỉ giao dịch.
Hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đối với các dự án carbon đang tăng, nhưng thị trường chưa thể phát triển mạnh ngay lập tức. Điều này còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện tiêu chuẩn carbon trong nước, quy trình chứng nhận, nhu cầu thị trường và mức giá phù hợp.
Khi thị trường vượt qua giai đoạn thí điểm và số doanh nghiệp phải giao dịch hạn ngạch được mở rộng, nhu cầu đối với tín chỉ từ các dự án giảm phát thải được kỳ vọng tăng lên. Đây sẽ là cơ sở để nguồn cung tín chỉ carbon trong nước từng bước tìm được đầu ra, đưa thị trường carbon từ khuôn khổ chính sách vào hoạt động thực tế.