Rào cản từ những mã số thuế "treo"
Hiện có khoảng 617.000 mã số thuế thuộc diện rà soát, trong đó gần 292.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể và chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Khoảng 325.500 doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và đang có nợ thuế. Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” được triển khai theo 3 giai đoạn, từ ngày 15/7 đến hết ngày 31/12/2026.
Theo số liệu Cục Thuế (Bộ Tài chính) công bố đầu tháng 10/2026, hơn 125.000 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể. Hơn 50.000 doanh nghiệp được xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế, khoảng 4.000 doanh nghiệp đã khôi phục sản xuất, kinh doanh. Với hơn hai tháng còn lại của chiến dịch, khối lượng hồ sơ cần xử lý vẫn rất lớn.
Không ít mã số thuế “treo” xuất phát từ cách hiểu chưa đầy đủ rằng đóng cửa văn phòng, không còn doanh thu là đã dừng hoạt động. Về mặt pháp lý, doanh nghiệp chỉ thực sự chấm dứt khi cơ quan thuế đóng mã số thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy phép. Thực tế ghi nhận có trường hợp chỉ báo tạm ngừng 3 tháng rồi chuyển sang lập doanh nghiệp mới, để doanh nghiệp cũ bị bỏ quên hàng chục năm. Có doanh nghiệp báo ngừng hoạt động từ năm 2013, đến nay vẫn còn nợ thuế cùng hóa đơn, chứng từ chưa xử lý.
Trong thời gian doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, các nghĩa vụ tài chính phát sinh theo quy định vẫn có thể tiếp tục tích lũy. Lệ phí môn bài chỉ 2 triệu đồng/năm, nhưng khi tính qua hơn một thập kỷ, cùng tiền chậm nộp trước đây là 0,05%/ngày và hiện là 0,03%/ngày, số tiền trở nên đáng kể. Có doanh nghiệp không còn nợ thuế, nhưng riêng tiền phạt chậm nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đã là 23 triệu đồng. Cộng thêm lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, tổng số phải nộp lên tới 63-65 triệu đồng, có đơn vị khoảng 100 triệu đồng.
Một doanh nghiệp chưa đóng dứt điểm mã số thuế có thể ảnh hưởng đến chính những bước kinh doanh tiếp theo của người chủ. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín cho biết, một số doanh nghiệp gặp khó khi thay đổi thông tin hoặc đăng ký sử dụng hóa đơn mới. Nguyên nhân là người đại diện theo pháp luật hoặc người từng điều hành có liên quan đến doanh nghiệp đã tạm ngừng, giải thể trước đây. Những vấn đề tồn tại từ trước khiến thời gian xử lý kéo dài, làm chậm quá trình gia nhập thị trường của doanh nghiệp mới.
Điều này cho thấy, đóng cửa kinh doanh không dứt điểm sẽ tạo ra hệ quả tiêu cực cho cả doanh nghiệp cũ lẫn cơ hội tái khởi nghiệp của chính chủ doanh nghiệp.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cho rằng, hệ lụy rõ nhất là khả năng quay lại kinh doanh bị ảnh hưởng. Khi doanh nghiệp mới cần vay vốn, tham gia đấu thầu hay ký kết giao dịch, nghĩa vụ tồn đọng của doanh nghiệp cũ có thể trở thành trở ngại. Thời gian càng kéo dài, chứng từ càng dễ thất lạc, nhân sự kế toán thay đổi, việc khôi phục hồ sơ càng tốn kém.
“Một thủ tục ban đầu không mấy phức tạp, nếu không xử lý kịp thời sẽ tích tụ thành nhiều nghĩa vụ, thủ tục và chi phí kéo dài nhiều năm. Khi đó, chính doanh nghiệp đang tự gây khó cho mình”, ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.
Thực tế này cho thấy, đóng dứt điểm mã số thuế cũ vừa là nghĩa vụ pháp lý, vừa là điều kiện để người kinh doanh giữ được cơ hội cho những bước khởi nghiệp tiếp theo.
Phân loại đúng bản chất, mở đường quay lại thị trường
Để người kinh doanh có thể quay lại thị trường thuận lợi, trước hết cần tháo gỡ những vướng mắc khiến doanh nghiệp cũ chưa thể đóng mã số thuế. Vướng mắc lớn nhất nằm ở khâu quyết toán. Doanh nghiệp đã hoạt động, còn nợ thuế, còn hóa đơn, chứng từ thì bắt buộc phải quyết toán thuế trước khi đóng mã số thuế. Khi bắt tay vào quyết toán, có doanh nghiệp mới phát hiện hóa đơn đầu vào mua từ đơn vị đã mất tích, bỏ trốn, hoặc làm mất hóa đơn mua từ cơ quan thuế trước đây. Tâm lý ngại thủ tục khiến hồ sơ tồn đọng tăng lên.
Ở góc độ này, luật sư Nguyễn Văn Được cho rằng cần phân biệt rõ hóa đơn bất hợp pháp đã được cơ quan có thẩm quyền xác định với trường hợp bên bán mới bị nhận diện có rủi ro cao về thuế, trong khi bên mua giao dịch thực chất. Với hóa đơn bất hợp pháp, việc xử lý phải tuân thủ pháp luật. Với hồ sơ hoàn thuế, phần đã đầy đủ, đúng quy định nên được giải quyết trước, phần chưa rõ ràng tiếp tục xác minh.“Không nên để một vướng mắc kéo dài ảnh hưởng đến toàn bộ hồ sơ của doanh nghiệp”, luật sư Nguyễn Văn Được đề xuất.
Tinh thần phân loại cũng được đặt ra với các khoản phạt thủ tục. Luật Quản lý thuế xác định người đã đăng ký thuế mà không nộp tờ khai thì bị xử phạt. Tuy nhiên, khi áp dụng chung, doanh nghiệp không phát sinh hoạt động thực tế và doanh nghiệp cố tình né tránh nghĩa vụ có thể chịu cách xử lý tương tự.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng cần tách bạch nhóm doanh nghiệp mới thành lập, không có doanh thu, không vướng hóa đơn với nhóm mua bán hóa đơn bất hợp pháp, bỏ trốn, né tránh quyết toán. Với nhóm thứ nhất, có thể nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp hơn đối với tiền phạt chậm nộp tờ khai.“Việc phân loại rất quan trọng. Nếu không phân loại, người tuân thủ pháp luật tốt lại phải chịu cách xử lý như những trường hợp kéo dài, né tránh nghĩa vụ”, bà Cúc nói.
Hướng tiếp cận này phù hợp với định hướng giảm gánh nặng cho khu vực kinh tế tư nhân. Thực hiện chủ trương tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, từ ngày 1/1/2026, việc thu, nộp lệ phí môn bài đã chấm dứt. Trên tinh thần đó, khoản lệ phí môn bài còn nợ từ các năm trước của những trường hợp không phát sinh doanh thu là nội dung có thể được xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Có thể thấy, những tháng cuối năm 2026 là thời điểm thuận lợi để doanh nghiệp chủ động rà soát trạng thái mã số thuế, khép lại những thủ tục dang dở. Khi từng trường hợp được phân loại đúng bản chất và có cơ chế xử lý phù hợp với thực tiễn, những vướng mắc trong quá trình chấm dứt hiệu lực mã số thuế sẽ từng bước được tháo gỡ. Người kinh doanh nhờ đó có thêm điều kiện tái khởi nghiệp, góp phần mở rộng lực lượng doanh nghiệp thực chất.