Doanh nghiệp còn vướng từ vốn đến đầu ra sản phẩm
Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển cả về số lượng, chất lượng, quy mô và năng lực cạnh tranh. Trong đó, tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, thị trường, mặt bằng sản xuất và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là những yêu cầu quan trọng.
Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp tư nhân hiện nay vẫn có quy mô nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính, trình độ quản trị và năng lực công nghệ còn hạn chế. Việc tiếp cận vốn, đất đai và các nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Những vướng mắc này tiếp tục được các đại biểu Quốc hội đề cập khi thảo luận tại Tổ 2 chiều 17/10 về dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các ý kiến tập trung vào những vấn đề cụ thể như tiếp cận tín dụng, tìm kiếm khách hàng cho sản phẩm công nghệ mới và bố trí mặt bằng sản xuất, qua đó đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Đại biểu Trần Anh Tuấn (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh) đánh giá việc sửa đổi luật là cần thiết trong bối cảnh điều kiện kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi. Theo đại biểu, các chính sách hỗ trợ cần được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn, đồng thời bảo đảm khả năng thực thi và hiệu quả thực chất.
Đề cập đến khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đại biểu Trần Anh Tuấn ủng hộ quy định tại Điều 8 và Điều 16 của dự thảo luật về việc tổ chức tín dụng xem xét phương án cho vay dựa trên kết quả sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, doanh thu, lợi nhuận và các nguồn thu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả, đại biểu cho rằng cần giải quyết tình trạng thông tin phục vụ đánh giá doanh nghiệp còn phân tán. Bên cạnh thông tin tín dụng do Ngân hàng Nhà nước nắm giữ, dữ liệu về doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách và hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp còn nằm tại nhiều cơ quan khác nhau, chủ yếu là cơ quan thuế và hải quan.
Bên cạnh vốn, khả năng tiếp cận thị trường cũng là trở ngại đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, các doanh nghiệp phát triển công nghệ mới gặp khó khăn khi đưa sản phẩm ra thị trường do thiếu khách hàng đầu tiên.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 19 của dự thảo luật cơ chế Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập cần chủ động đặt hàng, mua và sử dụng thử nghiệm các sản phẩm, giải pháp công nghệ mới do doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển.
Đại biểu dẫn kinh nghiệm Hàn Quốc với chương trình mua sắm công đối với sản phẩm đổi mới sáng tạo. Năm 2019, chương trình ban đầu chỉ mua được khoảng 30 sản phẩm mỗi năm, đến năm 2024 số lượng đã tăng gấp 10 lần. Đại biểu cũng đề cập kinh nghiệm Trung Quốc quy định vai trò khách hàng đầu tiên của Nhà nước trong luật.
Một điểm nghẽn khác được đại biểu Võ Văn Minh (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh) đề cập là mặt bằng sản xuất. Theo đại biểu, tại những địa bàn khó khăn chưa có khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhiều doanh nghiệp phải hoạt động phân tán bên ngoài. Vì vậy, cần xem xét bổ sung cơ chế hỗ trợ đối với các doanh nghiệp nằm ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhưng hoạt động phù hợp quy hoạch.
Đại biểu cũng cho rằng quy định về tỷ lệ diện tích dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các cụm công nghiệp mới thành lập cần được xem xét lại. Đối với thời hạn cho thuê lại diện tích dành cho nhóm doanh nghiệp này, đại biểu nhận định mốc 2 năm sau khi hoàn thành hạ tầng có thể chưa phù hợp với thực tế lấp đầy khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vốn có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm, thậm chí 12 năm.
Những ý kiến trên phản ánh những điểm nghẽn trong quá trình phát triển của doanh nghiệp, từ khả năng tiếp cận vốn, đất đai đến năng lực đổi mới sáng tạo và mở rộng quy mô. Nếu các điểm nghẽn này chưa được giải quyết đồng bộ, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong quá trình đầu tư, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hoàn thiện chính sách để doanh nghiệp phát triển về quy mô và năng lực cạnh tranh
Từ những vướng mắc thực tế, các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung vào cơ chế tín dụng, chính sách thuế, mua sắm công và tiếp cận mặt bằng sản xuất.
Về vốn, đại biểu Trần Anh Tuấn cho rằng cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và tổ chức tín dụng, đồng thời quy định rõ điều kiện bảo mật để bảo vệ thông tin kinh doanh của doanh nghiệp.“Nếu các thông tin này được chia sẻ, các tổ chức tín dụng sẽ có những căn cứ và có những thông tin thiết thực hơn để đánh giá được phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó mới có khả năng xem xét chuyện cho vay, cho tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn”,đại biểu Trần Anh Tuấn nêu.
Đề xuất này phù hợp với định hướng của Nghị quyết 68-NQ/TW về tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống ngân hàng, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan, qua đó hỗ trợ đánh giá mức độ tín nhiệm, chấm điểm tín dụng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Đối với chính sách thuế, đại biểu Trần Anh Tuấn cơ bản nhất trí việc nâng ngưỡng doanh thu từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng theo Điều 33 của dự thảo luật. Đại biểu cũng lưu ý cần thống nhất thời điểm áp dụng chính sách với hiệu lực của luật, tránh phát sinh vướng mắc trong kê khai, quyết toán và điều chỉnh nghĩa vụ thuế.
Trong khi đó, đại biểu Võ Văn Minh đề nghị xem xét ưu tiên nguồn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều hành kinh tế vĩ mô, bên cạnh nguồn vốn dành cho các công trình trọng điểm. Về thuế, đại biểu đề xuất bổ sung chính sách giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm tiếp theo sau thời gian miễn thuế 3 năm đầu.
Đối với mặt bằng sản xuất, đại biểu kiến nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nằm ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại những địa bàn khó khăn chưa có hạ tầng công nghiệp tập trung, với điều kiện phù hợp quy hoạch.
Đại biểu cũng đề xuất xem xét lại tỷ lệ diện tích dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các cụm công nghiệp mới thành lập, đồng thời nghiên cứu cơ chế cho thuê lại phần diện tích còn lại dựa trên tình hình khai thác thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào thời hạn 2 năm sau khi hoàn thành hạ tầng. Cách tiếp cận này có thể giúp duy trì quỹ đất dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời phù hợp hơn với quá trình lấp đầy mặt bằng công nghiệp.
Với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đề xuất của đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai về cơ chế Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên hướng tới giải quyết bài toán đầu ra cho sản phẩm công nghệ mới. Việc cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chủ động đặt hàng, mua và sử dụng thử nghiệm sản phẩm có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường, từng bước phát triển sản phẩm và năng lực thương mại hóa.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai, dù Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đề cập chính sách ưu đãi trong mua sắm công đối với sản phẩm đổi mới sáng tạo, dự thảo luật này vẫn cần quy định cụ thể hơn về cơ chế thực hiện, thậm chí xây dựng một chương trình riêng.
Các giải pháp này phù hợp với định hướng chung của Nghị quyết 68-NQ/TW về hỗ trợ thực chất doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mở rộng cơ hội kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Để đạt được mục tiêu này, việc phát triển doanh nghiệp cần gắn với khả năng tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực công nghệ, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Từ các ý kiến đóng góp của các đại biểu tại Tổ 2, yêu cầu đặt ra là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được thiết kế theo hướng đồng bộ, khả thi và phù hợp với những khó khăn thực tế của doanh nghiệp. Tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, thuế, mặt bằng và đầu ra sản phẩm sẽ tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, tích lũy nguồn lực, mở rộng quy mô và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW.