Từ ngày 7-12/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những động lực quan trọng cho giai đoạn phát triển mới.
Nhân dịp này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Trần Tuấn Anh, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về những thành quả nổi bật trong hợp tác khoa học, công nghệ giữa Việt Nam với Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp; cơ hội thúc đẩy hợp tác trong các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như bài toán đào tạo đội ngũ nhà khoa học đủ năng lực làm chủ công nghệ trong giai đoạn mới.
Pháp - đối tác quan trọng trong phát triển công nghệ vũ trụ
- Hợp tác khoa học, công nghệ là một trong những lĩnh vực có chiều sâu trong quan hệ Việt Nam - Pháp, đặc biệt trong công nghệ vũ trụ, ông đánh giá thế nào về năng lực tiếp nhận và từng bước làm chủ công nghệ của Việt Nam?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Hợp tác giữa Việt Nam và Pháp trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ vũ trụ, có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình từng bước làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Thông qua các chương trình hợp tác, Việt Nam từng bước nâng cao năng lực điều hành, vận hành, quản lý cũng như khai thác và ứng dụng công nghệ vệ tinh.
Đơn cử như hợp tác giữa Việt Nam và Pháp trong công nghệ vũ trụ mà điển hình là vệ tinh VNREDSat-1, việc vệ tinh hoạt động trong thời gian dài (gấp đôi tuổi thọ thiết kế) cho thấy năng lực của đội ngũ Việt Nam trong từng bước làm chủ công nghệ điều khiển, vận hành vệ tinh cũng như khai thác các ứng dụng của vệ tinh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Thông qua hợp tác quốc tế, các chuyên gia Việt Nam cũng có điều kiện nhanh chóng tiếp thu công nghệ, tri thức và kinh nghiệm từ những quốc gia đã có nhiều năm phát triển trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
-Công nghệ vũ trụ là lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn. Hợp tác quốc tế có ý nghĩa như thế nào trong việc giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, đào tạo nhân lực và rút ngắn quá trình làm chủ công nghệ, thưa ông?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp tác quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng, không một quốc gia nào có thể phát triển khoa học, công nghệ hoàn toàn một mình. Thông qua hợp tác quốc tế, chúng ta có thể tranh thủ các nguồn lực, đồng thời có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao.
Một ý nghĩa rất quan trọng khác là chúng ta có thể tiếp thu, từng bước làm chủ những công nghệ đã có, trên cơ sở đó phát triển các công nghệ của riêng mình. Vì vậy, hợp tác quốc tế, đặc biệt với những quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ hàng đầu, là một trong những ưu tiên rất quan trọng đối với Việt Nam nói chung và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) nói riêng.
- Từ những kết quả đạt được, ông đánh giá như thế nào về kết quả hợp tác Việt Nam – Pháp trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đào tạo thời gian qua?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Pháp là một trong những đối tác ưu tiên. Hợp tác không chỉ trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ mà còn trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ khác.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Phu nhân cùng Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân chụp ảnh chung với các đại biểu và giảng viên, sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội ngày 27/5/2025.
Chúng tôi đã có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các đối tác hàng đầu của Pháp, các trường đại học và viện nghiên cứu. Trong đó, một trong những điểm sáng là Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), cùng với các hoạt động hợp tác đào tạo đại học và sau đại học nhiều lĩnh vực, trong đó có công nghệ vũ trụ. Thông qua mô hình hợp tác này, sinh viên Việt Nam và quốc tế được đào tạo trong môi trường học thuật quốc tế, có cơ hội tiếp cận hệ thống và chuẩn đào tạo của châu Âu, là môi trường để sinh viên Việt Nam và quốc tế trao đổi về học thuật, khoa học, công nghệ, đồng thời tăng cường giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với các nước.
Hợp tác với Nga là trụ cột quan trọng
- Nếu nhìn lại hơn nửa thế kỷ hợp tác khoa học, công nghệ giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay, theo ông, đâu là những thành tựu nổi bật nhất?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Tôi cho rằng hợp tác với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay là một trong những trụ cột lớn đối với quá trình phát triển khoa học, công nghệ của Việt Nam nói chung và Viện Hàn lâm nói riêng. Qua hơn 50 năm, quan hệ giữa VAST với Viện Hàn lâm Khoa học Nga, các viện nghiên cứu và trường đại học của Nga được duy trì hết sức bền chặt.
Ngay từ những năm đầu xây dựng và phát triển, với sự hỗ trợ của Liên Xô, chúng ta đã hình thành được đội ngũ các nhà khoa học nòng cốt, trong đó nhiều người được đào tạo tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Nhiều nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam đã học tập, nghiên cứu từ bậc đại học đến nghiên cứu sinh tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Nga. Nhiều thế hệ giáo sư, viện sĩ và lãnh đạo khoa học của Việt Nam cũng trưởng thành từ môi trường đào tạo này.
- Nga có thế mạnh về nghiên cứu cơ bản và nhiều công nghệ chiến lược, trong giai đoạn tới, đâu là những lĩnh vực hai bên có thể chuyển mạnh từ hợp tác nghiên cứu sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ, thưa ông?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Trong hơn 50 năm hợp tác, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các đối tác Nga đã phát triển hợp tác tương đối đồng đều từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng đến phát triển công nghệ. Bên cạnh những lĩnh vực hợp tác truyền thống, chúng tôi xác định một số hướng có nhiều tiềm năng như công nghệ biển, công nghệ biển sâu, công nghệ lượng tử và công nghệ hạt nhân,...
Trong lĩnh vực vũ trụ, từ những năm 1980, Việt Nam đã tham gia tích cực vào chương trình Interkosmos. Trong lĩnh vực hạt nhân, Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập của Viện nghiên cứu hạt nhân Dubna ngay từ năm 1956 và mối quan hệ đó tiếp tục được duy trì, củng cố, phát triển đến ngày nay. Một trong những hướng trọng tâm là nghiên cứu biển. Giữa Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Nga đã xây dựng lộ trình hợp tác nghiên cứu biển đến năm 2035. Hằng năm, hai bên có các chuyến khảo sát chung về biển, từ sinh thái đến hải dương học, địa chất, địa vật lý biển. Đây tiếp tục là một lĩnh vực hợp tác quan trọng trong thời gian tới.
- Ông kỳ vọng điều gì về sự phát triển của các chương trình hợp tác khoa học, công nghệ Việt Nam - Nga trong thời gian tới?
Giáo sư Trần Tuấn Anh: Nghiên cứu khoa học có một đặc thù là không thể đầu tư hôm nay và ngay lập tức có kết quả. Các kế hoạch, chương trình hợp tác đã được chúng tôi xây dựng với thời gian dài, có sự điều chỉnh theo từng giai đoạn hợp tác. Với quyết tâm chính trị của hai nước cũng như sự tham gia của các cơ quan, đơn vị trực tiếp hợp tác, tôi tin rằng thời gian tới các chương trình sẽ được cụ thể hóa thành những lộ trình rõ ràng hơn, với sự đầu tư trọng tâm, trọng điểm. Với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ban, ngành như hiện tại, trong khoảng 5 năm tới và xa hơn, chúng ta có thể nhìn thấy những bước phát triển cũng như đóng góp ngày càng nhiều của khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.
-Trong hợp tác với Nga cũng như các đối tác quốc tế, ông có thể cho biết, Viện Hàn lâm đặt vấn đề đào tạo đội ngũ khoa học trẻ ở vị trí như thế nào?
Giáo sư Trần Tuấn Anh:Đối với Nga cũng như các đối tác quốc tế khác, một trong những ưu tiên hàng đầu của VAST là đào tạo nguồn nhân lực. Thông qua các đề tài, nhiệm vụ và chương trình hợp tác quốc tế, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực luôn được đặt ở vị trí rất quan trọng. Tôi cho rằng đây là vấn đề sống còn.
Phòng thí nghiệm có thể đầu tư, mua sắm được, nhưng để đào tạo một nhà khoa học đầu ngành hoặc một nhà khoa học có trình độ cao, chúng ta phải mất ít nhất từ 8 đến 10 năm. Đó là cả quá trình từ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ đến sau tiến sĩ. Sau quá trình đó, chúng ta mới có thể hình thành những nhà khoa học có đủ trình độ làm việc độc lập và tiệm cận trình độ quốc tế.
Vì vậy, với tất cả các đối tác quốc tế, không chỉ riêng Nga, mục tiêu trọng tâm của chúng tôi là thông qua nghiên cứu và hợp tác phải đào tạo được nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Chuyến thăm Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lần này tiếp tục là điểm nhấn quan trọng trong triển khai đường lối đối ngoại thời kỳ mới được thể hiện tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tăng cường tin cậy chính trị giữa Việt Nam với hai nước.