Chính sách tiền tệ giữ vững "chân kiềng" ổn định vĩ mô
6 tháng đầu năm 2026 là giai đoạn điều hành “tương đối vất vả” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Áp lực từ xu hướng điều hành thận trọng của các ngân hàng trung ương lớn, biến động tỷ giá quốc tế, giá hàng hóa và những bất ổn địa chính trị khiến bài toán điều hành chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, NHNN vẫn kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời, chủ động hỗ trợ tăng trưởng thông qua việc sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách.
Một trong những điểm nhấn nổi bật là việc NHNN sử dụng đồng bộ các công cụ thị trường mở, tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ nhằm bảo đảm thanh khoản hệ thống thông suốt, đồng thời duy trì chênh lệch lãi suất hợp lý để hỗ trợ ổn định tỷ giá. Mặt bằng lãi suất điều hành tiếp tục được duy trì ở mức thấp nhằm tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Cùng với đó, NHNN tiếp tục yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay đối với các khoản vay mới, góp phần giảm chi phí vốn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Song song với điều hành lãi suất, tỷ giá được điều hành linh hoạt, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ khác và bán can thiệp ngoại tệ khi cần thiết, nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường. Dự trữ ngoại hối quốc gia tiếp tục được quản lý an toàn, duy trì vai trò là "bộ đệm" quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô.
Chính sách tín dụng tiếp tục được điều hành theo hướng tập trung vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. NHNN cũng có những điều chỉnh linh hoạt đối với tín dụng nhà ở xã hội, khu công nghiệp và các dự án trọng điểm nhằm tạo dư địa cho các tổ chức tín dụng đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng. Đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương ứng bổ sung khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vốn cho nền kinh tế.
Không chỉ tập trung vào cung ứng vốn, ngành Ngân hàng còn tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng.
Đánh giá về kết quả điều hành chính sách tiền tệ, ông Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, thành công nổi bật nhất trong 6 tháng đầu năm là NHNN tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, không đánh đổi sự ổn định để chạy theo tăng trưởng ngắn hạn. Theo ông Bình, việc điều hành linh hoạt các công cụ chính sách đã góp phần giữ mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, đồng thời, khơi thông dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và thúc đẩy phát triển tín dụng xanh. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và tạo dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi đánh giá, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng. Không chỉ góp phần ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm thanh khoản và kiểm soát lạm phát, chính sách tiền tệ còn định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao, qua đó góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng. Điều đáng ghi nhận là tăng trưởng kinh tế được duy trì song song với ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong cả năm.
Chính sách tài khóa mở rộng tạo dư địa cho tăng trưởng
Nếu chính sách tiền tệ tiếp tục giữ vai trò "neo" ổn định kinh tế vĩ mô, thì chính sách tài khóa trong 6 tháng đầu năm 2026 đã phát huy vai trò dẫn dắt nguồn lực, tạo thêm không gian để nền kinh tế tăng tốc. Trong bối cảnh dư địa nới lỏng tiền tệ không còn nhiều do áp lực lạm phát và biến động kinh tế thế giới, việc triển khai chính sách tài khóa theo hướng mở rộng có trọng tâm, trọng điểm đã góp phần chia sẻ đáng kể áp lực với chính sách tiền tệ.
Theo đó, Bộ Tài chính đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, phát triển thị trường vốn, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số. Đến hết tháng 6/2026, cả nước giải ngân khoảng 356.900 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung 22,3 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống người dân.
Cùng với đó, công tác quản lý nợ công tiếp tục được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn tài chính quốc gia. Đến ngày 28/6/2026, tổng vay trong nước và nước ngoài của Chính phủ đạt khoảng 454,7 nghìn tỷ đồng, đáp ứng yêu cầu huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển nhưng vẫn nằm trong giới hạn an toàn. Trong khi đó, thị trường tài chính tiếp tục phát triển theo hướng lành mạnh với quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt trên 10,5 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 82% GDP, tạo thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Song song với đó, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí tiếp tục được triển khai theo hướng vừa hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, vừa bảo đảm an toàn ngân sách nhà nước. Việc cải cách thủ tục hành chính, tinh gọn bộ máy và thúc đẩy chuyển đổi số cũng góp phần giảm chi phí tuân thủ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công.
Đánh giá về vai trò của chính sách tài khóa, ông Lê Duy Bình cho rằng, trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn rộng như những năm trước do áp lực lạm phát gia tăng, chính sách tài khóa đã trở thành lực đỡ quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Theo ông, việc đẩy mạnh đầu tư công, nâng cao hiệu quả giải ngân, thực hiện các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế đã góp phần cải thiện thanh khoản cho doanh nghiệp, nuôi dưỡng nguồn thu và tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân mở rộng đầu tư.
Đặc biệt, vị chuyên gia này nhấn mạnh đầu tư công không chỉ trực tiếp tạo ra tăng trưởng mà còn đóng vai trò là "vốn mồi", tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với đầu tư tư nhân và dòng vốn FDI. Cùng với việc tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, chi phí logistics và vận tải của doanh nghiệp từng bước được giảm xuống, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Ở góc độ khác, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng, chính sách tài khóa trong 6 tháng đầu năm không chỉ phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng thông qua đầu tư công mà còn thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp bằng các công cụ thuế, phí. Những giải pháp này đã bổ sung hiệu quả cho chính sách tiền tệ, tạo thêm dư địa để nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh nhiều biến động từ bên ngoài.
Phối hợp nhịp nhàng tạo hiệu ứng cộng hưởng
Theo các chuyên gia, kết quả tích cực của nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026 không đến từ hiệu quả của từng chính sách riêng lẻ mà là thành quả của sự phối hợp ngày càng nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
Ông Lê Duy Bình nhận định, điểm nổi bật trong điều hành 6 tháng đầu năm là tư duy tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm; tiền tệ chủ động, linh hoạt. Theo ông, trong khi đầu tư công được đẩy mạnh, NHNN đã chủ động điều tiết lượng tiền thông qua các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở để bảo đảm thanh khoản hệ thống và hạn chế áp lực lạm phát. Ngược lại, các chính sách miễn, giảm thuế, phí cũng đã chia sẻ áp lực với chính sách tiền tệ trong hỗ trợ doanh nghiệp, thay vì chỉ trông chờ vào việc giảm lãi suất.
Quan trọng hơn, khi các dự án hạ tầng trọng điểm được triển khai, không gian phát triển mới được mở ra, tạo điều kiện để tín dụng ngân hàng chảy vào những lĩnh vực có năng suất cao hơn như khu công nghiệp, năng lượng, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Theo ông Lê Duy Bình, đây chính là hiệu ứng bổ trợ mà 2 chính sách cùng tạo ra đối với nền kinh tế.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng, điều đáng ghi nhận nhất trong điều hành kinh tế vĩ mô 6 tháng đầu năm không nằm ở từng công cụ chính sách, mà ở cách thức 2 trụ cột điều hành được vận hành đồng bộ và cùng hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ đã bảo đảm ổn định thị trường tiền tệ, trong khi chính sách tài khóa phát huy vai trò dẫn dắt, qua đó tạo hiệu ứng cộng hưởng đối với tăng trưởng kinh tế và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Ở góc độ kiểm soát lạm phát, PGS.TS Phạm Tiến Hưng, Phó Trưởng Bộ môn Kiểm toán, Học viện Tài chính cho rằng, Chính phủ và các bộ, ngành đã phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, đồng thời sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành giá như Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, điều chỉnh thuế, phí và tăng cường theo dõi cung - cầu hàng hóa thiết yếu. Những giải pháp này đã góp phần hạn chế sự lan tỏa của các cú sốc từ bên ngoài vào mặt bằng giá trong nước, tạo điều kiện để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, những tháng cuối năm, áp lực điều hành sẽ lớn hơn khi kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, lạm phát và tỷ giá chịu tác động từ xu hướng chính sách của các ngân hàng trung ương lớn. Do đó, việc duy trì cơ chế phối hợp giữa hai chính sách tiếp tục có ý nghĩa quyết định.
Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính sách tài khóa năm nay tiếp tục mở rộng có trọng tâm trọng điểm, tiếp tục xem xét giãn hoãn giảm thuế cho một số lĩnh vực ngành hàng, phối hợp tốt với chính sách tiền tệ, đảm bảo mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Theo đó, vai trò của Bộ Tài chính trong phối hợp NHNN kiểm soát tốt giá cả, nhất là giá nhiều mặt hàng là vấn đề rất quan trọng.
Trong khi đó, ông Lê Duy Bình cho rằng, ngoài sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cần tăng cường tính đồng bộ với các chính sách phát triển công nghiệp, hạ tầng, lưu thông hàng hóa và phát triển thị trường nhằm tạo môi trường thuận lợi để các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn. Còn theo ông Nguyễn Quang Huy, điều quan trọng không phải là tiếp tục nới lỏng chính sách bằng mọi giá, mà là tối ưu hóa sự phối hợp giữa các công cụ điều hành để mỗi chính sách phát huy đúng vai trò và hỗ trợ lẫn nhau.
“Khi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa được điều hành trên tinh thần chia sẻ mục tiêu, thống nhất hành động và phản ứng kịp thời trước các biến động trong nước cũng như quốc tế, Việt Nam sẽ có thêm dư địa để duy trì tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, củng cố ổn định vĩ mô và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới”, ông Huy cho biết.