Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương tại Hội thảo “Từ công nghệ xanh đến doanh nghiệp thông minh” diễn ra trưa ngày 16/9/2026, bà Trương Thị Chí Bình - Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) chia sẻ về động lực chuyển đổi số, những rào cản đối với doanh nghiệp chế tạo, cũng như yêu cầu chuyển đổi xanh trong chuỗi cung ứng.
Yêu cầu từ thị trường thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số
- Thưa bà, từ thực tế doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, bà đánh giá nhu cầu chuyển đổi sang công nghệ xanh hiện nay đang diễn ra như thế nào và động lực chính đến từ đâu?
Bà Trương Thị Chí Bình:Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp chế tạo đã có yêu cầu chuyển đổi số khá sớm. Động lực đến từ chuỗi cung ứng, từ người mua và yêu cầu của thị trường.
Hiện nay, có những khách hàng tại Mỹ nhưng có thể theo dõi ngay trong ngày lô hàng của mình đang được sản xuất như thế nào, công nhân nào đang thực hiện, những vấn đề gì xảy ra với lô hàng. Các sản phẩm, linh kiện khi sản xuất cũng phải truy xuất được vật liệu đến từ đâu, mã barcode như thế nào.
Ngành chế tạo có yêu cầu rất cao, vì vậy động lực chuyển đổi số bao giờ cũng đến từ thị trường. Bình thường, doanh nghiệp đang sản xuất theo cách hiện tại sẽ không tự nhiên đầu tư cho chuyển đổi số. Doanh nghiệp tất nhiên muốn quản trị tốt hơn nhưng việc này tốn rất nhiều tiền và thời gian. Khi khách hàng yêu cầu thì doanh nghiệp buộc phải làm.
Ngành công nghiệp chế tạo là ngành được khách hàng yêu cầu chuyển đổi khá sớm nên doanh nghiệp cũng đã có sự chuẩn bị. Tuy nhiên, cần hiểu rằng chuyển đổi số chỉ là phần bổ sung, là công cụ của quản trị. Điều quan trọng nhất và cũng khó nhất của chuyển đổi số là hệ thống quản trị phải tốt, phải chuẩn chỉnh.
Doanh nghiệp phải tối ưu hóa sản xuất trước rồi mới áp dụng chuyển đổi số. Nếu hệ thống quản trị đang lúng túng thì dù đầu tư đến cả triệu USD cũng không thể sử dụng hiệu quả. Phần vật lý, dù trước đây hạch toán bằng sổ sách hay Excel, cũng phải chuẩn chỉnh. Dữ liệu phải có nguồn rõ ràng để có thể khai thác. Khi đó, chuyển đổi số mới có thể phát huy hiệu quả.
- Thưa bà, đâu là những rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đầu tư công nghệ xanh, từ vốn, công nghệ đến nhân lực và khả năng tiếp cận các chuỗi cung ứng xanh?
Bà Trương Thị Chí Bình:Với ngành chế tạo, rào cản lớn nhất là hệ thống quản trị phải chuẩn. Khi hệ thống quản trị đã chuẩn thì doanh nghiệp áp dụng chuyển đổi số rất nhanh.
Điểm thứ hai là ngành chế tạo rất phức tạp. Ví dụ, chúng tôi mua phần mềm SAP (hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp - SAP ERP) để quản trị sản xuất, nhưng để áp dụng cho ngành này thì không thể chỉ sử dụng ngay mà phải tích hợp từng phần, chi phí rất lớn.
Trong ngành cơ khí có những máy móc đã sử dụng hàng chục năm, không thể đo lường được. Doanh nghiệp thậm chí không còn bộ hướng dẫn sử dụng hoặc thông số của máy để đưa vào phần mềm. Nhiều việc phải thực hiện bằng tay. Năng suất của máy như thế nào, dự báo hỏng hóc ra sao, gần như phải sử dụng dữ liệu thu thập từ chính nhà máy trong quá trình vận hành.
Vì vậy, khi thiết lập một hệ thống, kể cả khi hệ thống quản trị đã tốt, người thiết kế hệ thống chuyển đổi số, từ ERP đến hệ thống quản trị số, phải hiểu rất rõ về ngành cơ khí. Nếu không, việc triển khai sẽ rất khó và chi phí cao.
Vì vậy, dù xu hướng chuyển đổi số đang phát triển mạnh, chúng tôi vẫn phải triển khai song song. Một mặt, VASI hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện Lean, tối ưu hóa sản xuất và hoàn thiện hệ thống quản trị. Khi nền tảng đã tốt, doanh nghiệp áp dụng chuyển đổi số từng phần sẽ dễ hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đang cố gắng phát triển những phần mềm dành cho ngành, với các module để doanh nghiệp sử dụng và tiết kiệm thời gian. Nếu doanh nghiệp phải làm lại từ đầu thì chi phí sẽ rất đắt.
Chuyển đổi số cần bắt đầu từ dữ liệu và quản trị
- Việc đầu tư công nghệ xanh có thể tác động như thế nào đến chi phí sản xuất, năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu xanh hóa từ các thị trường xuất khẩu ngày càng cao?
Bà Trương Thị Chí Bình:Câu chuyện này rất rộng. Nếu chỉ chuyển đổi số cho hệ thống ERP thì đương nhiên chi phí ban đầu sẽ tăng. Nhưng về lâu dài, doanh nghiệp có thể giảm được nhiều chi phí trước đây bị tính dư thừa.
Khi đưa lên phần mềm và nhìn được hoạt động một cách minh bạch, doanh nghiệp sẽ giảm được nhiều công đoạn thừa. Một phần mềm ERP tốt trong ngành sản xuất, chế tạo có thể tính đơn hàng, giá và giá thành chỉ trong khoảng một giờ sau khi khách hàng yêu cầu báo giá, bởi dữ liệu đã được bóc tách rất chi tiết.
Trước đây, khi khách hàng gửi yêu cầu báo giá, doanh nghiệp phải chuyển thông tin đến các phòng ban để lấy dữ liệu. Bây giờ, trên phần mềm ERP đã có sẵn thông tin, doanh nghiệp nhập dữ liệu và hệ thống có thể tự động tính toán. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là thông tin và dữ liệu phải chuẩn.
Về cơ bản, giai đoạn đầu chuyển đổi số sẽ làm tăng chi phí, nhưng trong thời gian dài sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí, giảm chi phí trung gian, tối ưu hóa các công đoạn và minh bạch thông tin. Quan trọng nhất là doanh nghiệp đáp ứng khách hàng nhanh hơn, hiểu rõ năng suất cũng như điểm yếu của mình để có thể thay thế hoặc sửa chữa.
Nhìn chung, chuyển đổi số hiệu quả hơn nhiều so với việc không sử dụng các công cụ số. Nhưng để đạt được điều đó, doanh nghiệp phải đến một mức độ nhất định và phải đầu tư. Hệ thống tổ chức, hệ thống quản lý phải chuẩn chỉnh. Người thiết kế hệ thống chuyển đổi số ban đầu cũng phải hiểu sâu sắc về ngành chế tạo mới có thể triển khai hiệu quả.
Ngành chế tạo có rất nhiều sản phẩm trung gian và hệ thống máy móc còn mang tính truyền thống. Trong khi đó, ngành điện tử thuận lợi hơn vì sử dụng nhiều máy tự động, dễ thiết lập hệ thống. Ngành cơ khí khó hơn nhiều.
Cuối cùng, rào cản vẫn nằm ở chi phí, công sức và thời gian. Nhiều doanh nghiệp đang sản xuất hàng ngày nên không có thời gian để nghĩ đến việc thay đổi, trừ khi khách hàng yêu cầu thì họ phải làm.
Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị doanh nghiệp nên làm từng phần một. Thay đổi ngay toàn bộ hệ thống sẽ rất vất vả. Doanh nghiệp nên triển khai từng phần, nhưng các phần đó phải được thiết kế dưới dạng module để sau này có thể tích hợp với nhau. Nếu làm rời rạc thì sẽ rất lãng phí.
- Theo bà, cần làm gì để kết nối công nghệ xanh với chuyển đổi số, giúp doanh nghiệp vừa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, vừa nâng năng suất và tạo thêm giá trị trong chuỗi cung ứng?
Bà Trương Thị Chí Bình:Những lợi ích của việc kết nối công nghệ xanh và chuyển đổi số là rõ ràng. Tuy nhiên, để hỗ trợ doanh nghiệp, trước hết hệ thống quản trị phải chuẩn.
Cơ sở dữ liệu, tức dữ liệu doanh nghiệp khai thác, phải có nguồn rõ ràng. Sổ sách, giấy tờ liên quan đến dữ liệu phải minh bạch và doanh nghiệp phải lưu vết được dữ liệu. Yêu cầu đầu tiên của doanh nghiệp hiện nay là phải lưu vết được dữ liệu, có một nguồn dữ liệu rõ ràng thì khi cần mới có thể khai thác và thực hiện chuyển đổi số.
Không phải cứ đưa phần mềm vào là có thể chuyển đổi số. Vì vậy, việc đầu tiên VASI vẫn theo đuổi là hoàn thiện hệ thống quản trị. Doanh nghiệp phải tối ưu hóa hệ thống quản trị, chuẩn hóa dữ liệu, sau đó mới áp dụng chuyển đổi số.
Chuyển đổi số cũng nên thực hiện từng phần, tiết kiệm chi phí và ưu tiên những phần cần thiết trước. Các phần chuyển đổi số phải có khả năng tích hợp để sau này hoàn thiện toàn bộ hệ thống mà không gây lãng phí. Đó là những bước chúng tôi đang thực hiện.
Về chuyển đổi xanh và môi trường, thực tế VASI đã triển khai từ lâu. Trong ngành nhựa, các phần dư thừa phải được tái chế; trong ngành thép, những đầu thép cũng phải bán cho các công ty tái chế.
Tuy nhiên, gần đây yêu cầu của khách hàng cao hơn rất nhiều. Không chỉ sản phẩm cuối cùng, ngay cả vật liệu đầu vào cũng phải là vật liệu tái chế. Đây là vấn đề nằm ngoài khả năng của VASI, bởi liên quan trực tiếp đến nguồn vật liệu và đây cũng là vấn đề Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn.
VASI sẽ phải đề xuất Chính phủ có những chính sách rõ rệt hơn. Nếu không, đến một thời điểm, vật liệu đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam có thể không đáp ứng được yêu cầu của người mua theo tiêu chuẩn toàn cầu vì không đạt tiêu chuẩn về vật liệu tái chế.
Doanh nghiệp chế tạo cần chuẩn hóa hệ thống quản trị, xây dựng dữ liệu minh bạch và triển khai chuyển đổi số từng phần. Các module số hóa cần có khả năng tích hợp về sau để tránh đầu tư rời rạc, phát sinh chi phí và lãng phí nguồn lực. Với chuyển đổi xanh, yêu cầu về vật liệu tái chế đang ngày càng trở thành tiêu chuẩn mới trong chuỗi cung ứng toàn cầu.