Thứ năm, 08/10/2026

Ngân hàng tìm điểm cân bằng giữa lãi suất, tỷ giá và tăng trưởng

Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ quản lý chặt lãi suất trong mối tương quan với tỷ giá, tìm điểm cân bằng để hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng tìm điểm cân bằng giữa lãi suất, tỷ giá và tăng trưởng

Thông tin tại họp báo công bố kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2026 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, các nội dung về điều hành chính sách tiền tệ và bảo đảm an toàn hệ thống được đặt trong yêu cầu chung về duy trì ổn định hoạt động ngân hàng, bảo đảm dòng vốn cho nền kinh tế và an toàn cho khách hàng.

Giữ dòng vốn trong thế cân bằng

Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước, diễn biến chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn thời gian qua đang tạo ra nhiều áp lực đối với tỷ giá, lãi suất và lạm phát trên phạm vi toàn cầu. Việc các ngân hàng trung ương lớn thay đổi nhanh chính sách tiền tệ, cùng với diễn biến lạm phát còn nhiều yếu tố bất định, tác động nhiều mặt tới điều hành chính sách tiền tệ của những nền kinh tế có quy mô nhỏ và độ mở lớn như Việt Nam.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ liên quan đến tăng trưởng tín dụng, lãi suất, tỷ giá và thanh khoản hệ thống để ứng phó với những biến động từ thị trường quốc tế.“Ngân hàng Nhà nước một mặt rất thận trọng với lạm phát, không chủ quan với lạm phát, nhưng mặt khác cũng tìm mọi cách để hỗ trợ trong phạm vi cho phép của chính sách tiền tệ để thúc đẩy phát triển kinh tế”,ông Phạm Chí Quang cho biết.

Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, yêu cầu đặt ra hiện nay là đồng thời hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao và kiểm soát lạm phát. Tăng trưởng GDP quý III đạt mức cao nhất trong nhiều năm, trong khi mục tiêu tăng trưởng của cả năm và quý IV tiếp tục ở mức cao. Điều này đặt ra yêu cầu lớn đối với việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, song đồng thời phải bảo đảm không tạo thêm sức ép đáng kể lên lạm phát.

Từ nay đến cuối năm, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục quản lý chặt chẽ các kênh cung ứng tiền nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát; bám sát diễn biến giá cả và phối hợp với các bộ, ngành trong điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, qua đó góp phần hạn chế tốc độ tăng của CPI.

Cùng với đó, tỷ giá tiếp tục là một nội dung được đặc biệt chú trọng. Với một nền kinh tế có độ mở lớn và quy mô xuất nhập khẩu cao như Việt Nam, biến động tỷ giá có thể tác động đáng kể đến mặt bằng giá trong nước khi lạm phát toàn cầu còn cao.“Nếu tỷ giá không được kiểm soát phù hợp, áp lực giá từ bên ngoài có thể truyền dẫn vào CPI trong nước”,ông Quang phân tích; đồng thời nhấn mạnh:“Chúng tôi sẽ kiểm soát chặt chẽ biến động tỷ giá”.

Theo số liệu được cập nhật tại họp báo, đồng Việt Nam đang tăng khoảng 1,12% so với USD, trong khi chỉ số DXY phản ánh sức mạnh của đồng USD có thời điểm vượt 102 điểm và tăng hơn 4% so với đầu năm. Nhiều đồng tiền trong khu vực châu Á và một số đồng tiền chủ chốt trên thế giới giảm giá so với USD, với mức giảm của nhiều đồng tiền vào khoảng 2 - 7%.

Trong điều kiện mặt bằng lãi suất quốc tế tăng, Việt Nam không thể hoàn toàn đứng ngoài xu hướng chung. Tuy nhiên, theo ông Phạm Chí Quang, việc điều hành phải bảo đảm sự cân bằng giữa nhiều mục tiêu. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục quản lý chặt chẽ lãi suất trong mối tương quan với tỷ giá, theo định hướng của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về việc tìm điểm cân bằng hợp lý giữa hai yếu tố này.

Đối với tín dụng, nền kinh tế vẫn cần duy trì dòng vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng cũng có quan hệ với áp lực lạm phát, do đó việc cung ứng vốn cần được điều hành phù hợp.“Chúng ta vẫn phải tiếp tục duy trì dòng máu tín dụng, đưa vốn vào nền kinh tế. Tuy nhiên, một mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng sẽ gây sức ép đến lạm phát trong thời gian tới”,ông Phạm Chí Quang nói.

Tăng lớp bảo vệ trước gian lận công nghệ cao

Cùng với yêu cầu duy trì dòng vốn và ổn định hoạt động ngân hàng, an toàn hệ thống và bảo vệ tài khoản khách hàng đang trở thành một nội dung ngày càng quan trọng khi phương thức tấn công của tội phạm công nghệ cao liên tục thay đổi.

Theo ông Lê Hoàng Chính Quang, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Ngân hàng Nhà nước, thời gian qua đã xuất hiện việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để giả mạo hình ảnh, giọng nói, phát tán ứng dụng và đường dẫn độc hại nhằm chiếm quyền điều khiển thiết bị; thậm chí can thiệp phần cứng, phần mềm thiết bị di động để tìm cách vượt qua cơ chế xác thực sinh trắc học.

Xác định đây là thách thức thường trực, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo toàn ngành triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, nghiệp vụ và phối hợp với Bộ Công an trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tấn công mạng và gian lận, lừa đảo trên không gian mạng.

Về khuôn khổ pháp lý, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các quy định về an toàn, bảo mật, trong đó có Thông tư 09, Thông tư 50 và Thông tư 77. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu phân loại và bảo vệ hệ thống thông tin theo cấp độ, triển khai các lớp bảo vệ từ hạ tầng, ứng dụng, cơ sở dữ liệu đến dịch vụ trực tuyến; tăng cường giám sát, phát hiện và ngăn chặn hành vi tấn công, khai thác lỗ hổng, mã độc, truy cập trái phép và rò rỉ dữ liệu. Các đơn vị cũng phải thường xuyên rà soát, cập nhật biện pháp bảo vệ, kiểm thử xâm nhập, xây dựng phương án và diễn tập ứng cứu, khôi phục hệ thống khi xảy ra sự cố.

Đối với ứng dụng Mobile Banking, yêu cầu đặt ra là phải có khả năng phát hiện và dừng hoạt động trên thiết bị bị can thiệp như root, jailbreak; phát hiện ứng dụng bị chỉnh sửa hoặc có phần mềm can thiệp trái phép. Công nghệ chống giả mạo sinh trắc học phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế ISO 30107 cấp độ 2. Theo số liệu khảo sát tại các ngân hàng trong nước, chi phí đầu tư cho an ninh mạng chiếm tối thiểu khoảng 15% chi đầu tư về công nghệ thông tin.

Song song với bảo vệ hệ thống, ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh làm sạch dữ liệu và xác thực khách hàng chính chủ. Tính đến ngày 2/10/2026, toàn ngành đã đối chiếu, xác minh thông tin, bao gồm thông tin sinh trắc học, của hơn 178 triệu hồ sơ khách hàng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường các lớp xác thực tại những khâu có nguy cơ cao như mở tài khoản, đăng nhập trên thiết bị mới, thay đổi phương thức xác thực; giám sát giao dịch bất thường và kịp thời liên hệ xác minh với khách hàng. Các ngân hàng đồng thời hiển thị cảnh báo khi khách hàng chuyển tiền tới tài khoản có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo.

Đối với người sử dụng dịch vụ, lãnh đạo Cục Công nghệ thông tin khuyến nghị nguyên tắc quan trọng là: dù thấy đúng số, nghe đúng giọng, nhìn đúng mặt, vẫn phải kiểm chứng trước khi chuyển tiền hoặc cung cấp thông tin.

Theo khuyến nghị của ngành Ngân hàng, người dân không nên vội vàng trước các yêu cầu chuyển tiền, đặc biệt khi bị thúc giục, đe dọa hoặc yêu cầu giữ bí mật. Khi ứng dụng ngân hàng hiển thị cảnh báo tài khoản người nhận có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo, cần dừng giao dịch ngay.

Khách hàng cũng cần kiểm chứng qua một kênh độc lập; tuyệt đối không cung cấp mật khẩu, mã PIN, mã OTP cho bất kỳ ai; không quay video khuôn mặt, thực hiện xác thực sinh trắc học hoặc gửi ảnh giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của người lạ. Đồng thời, không bấm vào đường link, quét mã QR hoặc cài đặt ứng dụng theo hướng dẫn từ cuộc gọi, tin nhắn chưa được kiểm chứng.

Trường hợp đã cung cấp thông tin hoặc chuyển tiền, khách hàng cần liên hệ ngay với ngân hàng để đề nghị tạm khóa tài khoản, dịch vụ ngân hàng điện tử và tra soát giao dịch; đồng thời trình báo cơ quan Công an, lưu giữ tin nhắn, số tài khoản và lịch sử cuộc gọi làm bằng chứng.

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ nghiên cứu, cập nhật quy định kỹ thuật về bảo đảm an ninh mạng cho các hệ thống thông tin trong ngành Ngân hàng và bảo vệ khách hàng; xây dựng quy định về an toàn hệ thống thông tin, bảo mật dữ liệu và hoạt động liên tục trong hoạt động ngân hàng. Cùng với đó, Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) sẽ được mở rộng trong cảnh báo, ngăn chặn các giao dịch có dấu hiệu gian lận, lừa đảo.

Đến nay, hệ thống SIMO đã thu thập báo cáo từ 150 đơn vị và chia sẻ cho 21 đơn vị khai thác, gồm 16 ngân hàng và 5 trung gian thanh toán. Hệ thống đã cảnh báo hơn 5,6 triệu lượt khách hàng; hơn 1,9 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch trên 6,3 nghìn tỷ đồng.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.