Cuộc đua hạ giá vốn
Thị trường tín dụng những ngày giữa tháng 8/2026 đang chứng kiến một chuyển động đáng chú ý giảm lãi suất không còn là những chương trình đơn lẻ mà đang trở thành xu hướng tương đối rộng trong hệ thống ngân hàng.
Nhìn từ diễn biến thực tế, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất hoặc mở rộng các gói tín dụng ưu đãi dành cho sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Một số gói tín dụng ngắn hạn có mức lãi suất khoảng từ 5,0 - 6,5%/năm; trung và dài hạn khoảng từ 8,0 - 9,5%/năm.
Ví như, SHB bổ sung 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới trong các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo..., với mức giảm từ 0,5 - 0,7%/năm. Cộng với các chương trình đã triển khai từ đầu năm, tổng quy mô tín dụng ưu đãi của ngân hàng này lên 47.000 tỷ đồng.
Còn ngân hàng Sacombank áp dụng mức giảm 2% lãi suất cho khách hàng xuất - nhập khẩu trên danh mục gần 100.000 tỷ đồng đến hết năm 2026. Sacombank cũng chủ động giảm biên lợi nhuận từ khoảng 2,79% xuống 0,79% trong chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xuất - nhập khẩu.
Hay như ngân hàng ACB triển khai gói tín dụng 5.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), với lãi suất thấp hơn 1%/năm so với mức hiện hữu.
Ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, Agribank triển khai gói 70.000 tỷ đồng; BIDV, Vietcombank và VietinBank mỗi ngân hàng triển khai gói 50.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên và SME.
Không đứng ngoài cuộc, MSB từ ngày 12/8/2026 triển khai chương trình 3.000 tỷ đồng dành cho SME và hộ kinh doanh, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với thông thường, mức ưu đãi từ 8,5%/năm. Đặc biệt KienlongBank giảm tới 2,5%/năm tùy nhóm khách hàng và kỳ hạn.
Đằng sau cuộc đua ấy là một thông điệp chính sách khá rõ dòng tín dụng phải được đưa tới những khu vực tạo ra năng lực sản xuất, xuất khẩu, việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Từ “vốn rẻ” đến “vốn đúng”
Điều đáng suy nghĩ nằm ở chỗ ngân hàng có tiền, lãi suất giảm, nhưng doanh nghiệp không phải lúc nào cũng sẵn sàng vay.
Đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dư nợ doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ; riêng SME đạt trên 4 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, đến cuối tháng 6, tiền gửi dân cư vượt 11 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 733.000 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm; tiền gửi của tổ chức kinh tế khoảng 6,37 triệu tỷ đồng.
Những con số này cho thấy thanh khoản và khả năng cung ứng vốn của hệ thống đang được củng cố. Nhưng phía cầu tín dụng lại phụ thuộc vào một biến số khó điều hành bằng chính sách tiền tệ khả năng tạo ra đơn hàng và dòng tiền của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp không vay chỉ vì lãi suất giảm. Họ vay khi nhìn thấy thị trường đủ rõ để tin rằng khoản vốn hôm nay có thể tạo ra dòng tiền ngày mai. Đây chính là điểm cần nhìn thẳng. Nếu sức mua yếu, đơn hàng xuất khẩu chưa phục hồi chắc chắn, chi phí đầu vào còn cao, doanh nghiệp sẽ cân nhắc rất kỹ việc gia tăng đòn bẩy tài chính. Vì vậy, giảm lãi suất là điều kiện cần, nhưng chưa phải điều kiện đủ để kích hoạt một chu kỳ đầu tư mới.
Một thay đổi đáng chú ý khác đang diễn ra trong cách ngân hàng tiếp cận khách hàng.
Nếu trước đây tài sản bảo đảm thường là “tấm vé” quan trọng để doanh nghiệp bước qua cửa tín dụng, thì dữ liệu và dòng tiền đang dần trở thành một lớp thông tin quan trọng không kém.
Với SME và hộ kinh doanh, vấn đề không hẳn là không có hoạt động kinh doanh, mà là hoạt động đó chưa được phản ánh đầy đủ trong hồ sơ tín dụng. Doanh thu, giao dịch thanh toán, hóa đơn, nghĩa vụ thuế, dòng tiền vào - ra... nếu được chuẩn hóa và kết nối có thể giúp ngân hàng đánh giá chính xác hơn khả năng trả nợ.
Ông Trần Văn Soul, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) Chi nhánh An Giang chia sẻ, việc hộ kinh doanh minh bạch doanh thu, thanh toán và nghĩa vụ thuế không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà, còn có thể trở thành lợi thế khi tiếp cận tín dụng. Dữ liệu đầy đủ hơn đồng nghĩa với khả năng mở rộng cho vay tín chấp.
Cùng hướng này, công nghệ đang được đưa sâu hơn vào quy trình cấp tín dụng. Bà Trần Thị Lối, Giám đốc TPBank Chi nhánh An Giang cho biết, ứng dụng công nghệ đã giúp giảm khoảng 30% quy trình ở một số khâu vận hành, rút ngắn khoảng 40-50% thời gian xử lý và tiết kiệm 300 - 500 tỷ đồng chi phí mỗi năm. Đây có thể mới là “mặt trận” quan trọng tiếp theo của cuộc đua tín dụng.
Bởi với doanh nghiệp, chi phí vốn không chỉ là lãi suất. Một khoản vay có lãi suất thấp nhưng mất nhiều tuần thẩm định, hồ sơ phức tạp và phát sinh nhiều chi phí vẫn chưa chắc là vốn rẻ.
Giảm lãi suất chỉ là “chìa khóa”, muốn doanh nghiệp mở rộng đầu tư phải có thị trường
Dư địa giảm lãi suất không phải vô hạn. Cuộc đua giảm lãi suất cũng cần được nhìn trong giới hạn của an toàn hệ thống. Tín dụng đang tăng nhanh, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục lớn. Vì vậy, kỳ vọng giảm lãi suất mạnh và kéo dài cần đi cùng thực tế về chi phí huy động, thanh khoản, chất lượng tài sản và các yêu cầu an toàn vốn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nhấn mạnh định hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững an toàn hệ thống và tăng khả năng tiếp cận tín dụng của người dân, doanh nghiệp; đồng thời phối hợp các bộ, ngành xử lý những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động cấp tín dụng.
Thực tế giảm lãi suất chỉ là “chìa khóa”, muốn doanh nghiệp mở rộng đầu tư phải có thị trường. Điều doanh nghiệp cần lúc này không đơn thuần là ngân hàng giảm thêm lãi suất cho vay, mà là sự chắc chắn về đầu ra sản phẩm.
Từ góc độ chính sách, nếu tiền tệ đã tạo mặt bằng vốn thuận lợi thì chính sách tài khóa cần tiếp tục tạo cầu theo hướng: Đẩy nhanh đầu tư công, hỗ trợ thị trường nội địa, thúc đẩy xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu. Khi doanh nghiệp nhìn thấy đơn hàng, họ mới có lý do để vay.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng phải tự thay đổi. Minh bạch tài chính, quản trị dòng tiền, số hóa hoạt động, nâng chất lượng quản trị và chuyển đổi xanh không chỉ để đáp ứng yêu cầu thị trường, mà còn giúp “nói cùng ngôn ngữ” với ngân hàng.
Khi ngân hàng chuyển từ tư duy “cho vay dựa trên tài sản” sang “cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu”, còn doanh nghiệp chuyển từ hồ sơ tài chính thiếu minh bạch sang dữ liệu kinh doanh có thể kiểm chứng, khoảng cách giữa cung vốn và cầu vốn sẽ được thu hẹp.
Suy cho cùng, giảm lãi suất không phải đích đến. Đích đến là một dòng vốn có chi phí hợp lý, chảy đúng địa chỉ và biến thành năng lực sản xuất mới. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra cho năm 2026, đó mới là thước đo thực chất nhất của chính sách tín dụng.
Và cũng vì thế, cuộc đua giảm lãi suất của các ngân hàng hiện nay đáng được nhìn nhận không chỉ như một cuộc cạnh tranh về giá vốn, mà như một cuộc cạnh tranh về khả năng hiểu doanh nghiệp, đánh giá dòng tiền và đưa vốn đến nền kinh tế nhanh hơn.