Thứ bảy, 19/09/2026

Nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Nâng cao năng lực, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tăng liên kết với doanh nghiệp dẫn dắt là chìa khóa giúp doanh nghiệp Việt tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Mở lối vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thể hiện qua quy mô thương mại và xuất khẩu liên tục được mở rộng. Nhưng để doanh nghiệp trong nước thực sự bước sâu vào các mắt xích có giá trị cao, câu chuyện không chỉ nằm ở tăng kim ngạch hay mở rộng thị trường. Điều quan trọng hơn là năng lực đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về chất lượng, công nghệ, dữ liệu, giao hàng và tuân thủ. Đây cũng là điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu doanh nghiệp Việt muốn nâng vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thông tin tại diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” do tạp chí Tài chính Doanh nghiệp tổ chức, TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đã chia sẻ về việc nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trao đổi về thực trạng năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, TS. Đỗ Diệu Hương cho biết, quy mô thương mại và xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục mở rộng nhanh trong giai đoạn 2021-2025. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng từ 668,5 tỷ USD năm 2021 lên 732,5 tỷ USD năm 2022, giảm xuống 683 tỷ USD năm 2023, sau đó phục hồi lên 786,29 tỷ USD năm 2024 và đạt 930,05 tỷ USD năm 2025. Trong cùng thời kỳ, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Sau sự suy giảm năm 2023, xuất khẩu phục hồi mạnh trong hai năm 2024-2025, tiếp tục mở rộng quy mô tham gia của Việt Nam vào thương mại toàn cầu.

Tuy nhiên, sự mở rộng về quy mô chưa đi cùng xu hướng gia tăng ổn định vai trò của khu vực trong nước trong cơ cấu xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này đạt 26,4% năm 2021, giảm xuống 25,6% năm 2022, tăng lên 26,9% năm 2023 và 28,3% năm 2024, nhưng giảm còn 22,7% năm 2025.

Ngược lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài duy trì tỷ trọng chi phối trong toàn bộ giai đoạn và tăng lên 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025. Riêng năm 2025, xuất khẩu của khu vực trong nước giảm 6,1%, trong khi khu vực FDI tăng 26,1%. Diễn biến này cho thấy sự gia tăng quy mô xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc vai trò của khu vực trong nước được củng cố một cách ổn định trong cơ cấu xuất khẩu.

Nhìn trong toàn giai đoạn, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực trong nước có cải thiện trong các năm 2023-2024 nhưng không duy trì được sang năm 2025. Biến động này cho thấy vai trò của khu vực trong nước trong cơ cấu xuất khẩu chưa được củng cố một cách bền vững, trong khi khu vực FDI tiếp tục giữ vị trí chi phối. Cơ cấu xuất khẩu mới phản ánh phương diện của vấn đề. Khi xem xét sâu hơn mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khoảng cách giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và quá trình hội nhập của nền kinh tế còn thể hiện rõ hơn”, TS. Đỗ Diệu Hương nhận định.

Đổi cách hỗ trợ doanh nghiệp

Trước thực trạng trên, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách đã chỉ ra giải pháp nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu.Thứ nhấtlà đổi mới cách tiếp cận hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng phát triển nhà cung cấp dựa trên nhu cầu của chuỗi.

Theo TS. Đỗ Diệu Hương, trước hết, cần thay đổi điểm xuất phát của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Việt Nam đã hình thành nhiều công cụ hỗ trợ liên quan đến đào tạo, tư vấn, đổi mới công nghệ, năng suất, chất lượng, xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp và tiếp cận tài chính.

Vấn đề vì vậy không chỉ nằm ở số lượng công cụ hỗ trợ, mà còn ở khả năng kết nối các công cụ này thành một quá trình nâng cấp gắn với những yêu cầu cụ thể mà doanh nghiệp phải đáp ứng để trở thành nhà cung cấp”, đại diện Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới nhấn mạnh.

TS. Đỗ Diệu Hương cho rằng, một doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi thường phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện về chất lượng, giá thành, công suất, giao hàng, dữ liệu và tuân thủ. Vì vậy, hỗ trợ riêng lẻ một yếu tố có thể cải thiện một phần năng lực nhưng chưa chắc giúp doanh nghiệp vượt qua ngưỡng đánh giá của khách hàng.

Cách tiếp cận phù hợp hơn là chuyển từ câu hỏi “có những công cụ gì để hỗ trợ doanh nghiệp?” sang “chuỗi đang cần gì và doanh nghiệp còn thiếu năng lực nào để đáp ứng yêu cầu đó?”. Theo đó, phát triển nhà cung cấp cần bắt đầu từ nhu cầu mua hàng và yêu cầu của doanh nghiệp dẫn dắt. Từ nhu cầu cụ thể về sản phẩm, linh kiện, nguyên liệu hoặc dịch vụ, có thể xác định các yêu cầu đối với nhà cung cấp, tìm kiếm doanh nghiệp trong nước có tiềm năng, đánh giá khoảng cách tiêu chuẩn và xây dựng lộ trình nâng cấp. Các công cụ về công nghệ, nhân lực, dữ liệu, tiêu chuẩn hay tài chính sau đó được lựa chọn và phối hợp theo khoảng cách cần xử lý, thay vì triển khai như những hoạt động tương đối độc lập.

Để nâng tầm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt cần cải thiện năng lực công nghệ, chất lượng, dữ liệu, giao hàng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn.

Thứ hailà tăng cường liên kết với doanh nghiệp dẫn dắt và phát triển mạng lưới nhà cung cấp nhiều tầng.

Đại diện Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho hay, nếu nhu cầu của chuỗi là điểm xuất phát của quá trình nâng cấp thì doanh nghiệp dẫn dắt không thể chỉ xuất hiện ở khâu cuối với tư cách người mua. Đây là chủ thể nắm giữ những thông tin mà cơ quan quản lý và tổ chức hỗ trợ khó có thể thay thế, như nhu cầu mua hàng, thông số kỹ thuật, tiêu chí đánh giá nhà cung cấp, những lỗi thường gặp và định hướng thay đổi của sản phẩm. Trong khi đó, các nghiên cứu về liên kết doanh nghiệp ở Việt Nam cho thấy quan hệ giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn những hạn chế, làm giảm khả năng lan tỏa và tham gia sâu hơn của doanh nghiệp nội địa vào mạng lưới sản xuất.

Vì vậy, cần chuyển từ kết nối doanh nghiệp theo sự kiện sang hợp tác phát triển nhà cung cấp theo quá trình. Doanh nghiệp dẫn dắt, bao gồm cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp hạt nhân trong nước, cần được khuyến khích tham gia từ khâu cung cấp thông tin về nhu cầu mua hàng, xác định yêu cầu kỹ thuật, sàng lọc doanh nghiệp tiềm năng đến phản hồi về khoảng cách năng lực, hỗ trợ thử nghiệm và đánh giá kết quả nâng cấp”, TS. Đỗ Diệu Hương nhấn mạnh.

Thứ balà phát triển hạ tầng và các công cụ hỗ trợ trực tiếp quá trình thu hẹp khoảng cách năng lực. Theo đại diện Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, giải pháp này tập trung vào những điều kiện giúp doanh nghiệp thực hiện lộ trình nâng cấp. Trong đó, cần ưu tiên ba cấu phần có quan hệ chặt chẽ với nhau là dữ liệu về năng lực nhà cung cấp; hạ tầng tuân thủ và dịch vụ kỹ thuật dùng chung; tài chính cho nâng cấp.

Nguyên tắc xuyên suốt là nguồn lực công hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua chi phí và rủi ro ban đầu của quá trình hình thành năng lực, nhưng không thay thế trách nhiệm đầu tư và khả năng tự duy trì năng lực của doanh nghiệp”, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách chỉ ra.

Thứ tưlà đổi mới quản trị và đánh giá chính sách theo kết quả phát triển nhà cung cấp. TS. Đỗ Diệu Hương cho rằng, cần tổ chức sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp dẫn dắt, tổ chức tài chính, tổ chức khoa học, công nghệ, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo quanh một lộ trình phát triển nhà cung cấp, thay vì mỗi chủ thể cung cấp một dịch vụ độc lập. Một doanh nghiệp sau khi được đánh giá khoảng cách cần có khả năng tiếp cận tương đối liền mạch các hỗ trợ cần thiết về kỹ thuật, công nghệ, dữ liệu, nhân lực và tài chính. Chính lộ trình nâng cấp của doanh nghiệp phải là trục kết nối các nguồn lực đó.

Đồng thời, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả chính sách. Các chỉ tiêu như số doanh nghiệp được đào tạo, số lượt tư vấn, số chứng nhận được hỗ trợ hay số cuộc kết nối được tổ chức vẫn cần thiết để quản lý hoạt động, nhưng chủ yếu phản ánh đầu ra trung gian.

Doanh nghiệp Việt đang đứng trước cơ hội mở rộng vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu nếu được hỗ trợ đúng nhu cầu và nâng cao năng lực nhà cung cấp.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.