Chủ nhật, 26/07/2026

Kinh tế tuần hoàn: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam

Tóm tắt: Kinh tế tuần hoàn (KTTH) mang đến nhiều cơ hội phát triển kinh tế bền vững, giúp Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường và có thể giúp ứng phó với biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp. Việc đẩy mạnh thực hiện KTTH là giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện hiệu suất lao động, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng mới, hiệu quả cao, hài hòa giữa mối quan hệ bảo vệ môi trường và nền kinh tế, góp phần đẩy mạnh bảo tồn thiên nhiên, trung hòa carbon và nhằm đưa phát thải ròng về 0 trong tương lai. Bài viết trình bày thực trạng KTTH của Việt Nam trong thời gian qua, cũng như cơ hội và thách thức, từ đó xây dựng giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển nền KTTH tại Việt Nam.

Kinh tế tuần hoàn: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam — Chính phủ Việt Nam

Tóm tắt:Kinh tế tuần hoàn (KTTH) mang đến nhiều cơ hội phát triển kinh tế bền vững, giúp Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường và có thể giúp ứng phó với biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp. Việc đẩy mạnh thực hiện KTTH là giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện hiệu suất lao động, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng mới, hiệu quả cao, hài hòa giữa mối quan hệ bảo vệ môi trường và nền kinh tế, góp phần đẩy mạnh bảo tồn thiên nhiên, trung hòa carbon và nhằm đưa phát thải ròng về 0 trong tương lai. Bài viết trình bày thực trạng KTTH của Việt Nam trong thời gian qua, cũng như cơ hội và thách thức, từ đó xây dựng giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển nền KTTH tại Việt Nam.

Từ khóa:Kinh tế tuần hoàn, biến đổi khí hậu, tăng trưởng kinh tế, chuỗi giá trị, phát thải ròng

Circular Economy: Opportunities and Challenges for Vietnam Enterprises

Abstract:Circular economy offers many opportunities for sustainable economic development, helping Vietnam achieve its economic, social and environmental goals and respond to increasingly complex climate change. Promoting the implementation of circular economy is a key solution to innovate economic growth, enhance competitiveness, improve labor productivity, create new, highly efficient value-added chains, harmonize the relationship between environmental protection and the economy, contribute to promoting nature conservation, carbon neutrality and aiming to bring net emissions to zero in the future. This article presents the current status of circular economy in Vietnam, as well as opportunities and challenges, thereby developing appropriate solutions to promote the development of circular economy in Vietnam.

Keywords:Circular economy, climate change, economic growth, value chain, net emissions

1. Đặt vấn đề

Trước đây, nền kinh tế được biết đến là nền kinh tế tuyến tính truyền thống chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên, sản xuất và loại bỏ sau tiêu thụ, dẫn đến việc tạo ra một lượng rác thải khổng lồ. Nền kinh tế tuyến tính đã được áp dụng trong một thời gian khá dài nhưng không mang lại động lực hướng tới phát triển bền vững do chỉ tập trung vào việc thu mua nguyên liệu thô, sản xuất và chuyển thành sản phẩm hoàn chỉnh và xử lý (Ghisellini và Ulgiati, 2020). Nền kinh tế truyền thống chủ yếu đi theo một đường thẳng và không chú trọng trong việc lấy lại giá trị từ chu kỳ cuối của sản phẩm. Chính vì thế, nền kinh tế tuyến tính không thể giúp tăng trưởng kinh tế bền vững cho các quốc gia có nguồn tài nguyên hữu hạn và khả năng hấp thụ chất thải hạn chế, lãng phí giá trị có thể khai thác được, thiếu lợi thế cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, để giải quyết những thách thức này thì nền kinh tế truyền thống trước kia rất cần sự chuyển đổi và từ đó KTTH đã xuất hiện.

Năm 1989, hai nhà kinh tế môi trường người Anh là Pearce và Turner đã đưa ra khái niệm nền KTTH lần đầu tiên, họ cho rằng KTTH là một hệ thống kinh tế khép kín – một hệ thống kinh tế và môi trường không đặc trưng bởi các mối liên hệ tuyến tính với nhau, thay vào đó là mối liên hệ tuần hoàn. KTTH là một mô hình sản xuất và tiêu dùng, trong đó bao hàm việc chia sẻ, cho thuê, tái sử dụng, sửa chữa, cải tạo, tái chế các nguyên vật liệu và thành phần hiện có nhiều nhất có thể, nhằm kéo dài vòng đời sử dụng của các sản phẩm (EU,2021). Chính vì vậy, nền KTTH là nơi mà giá trị sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế càng lâu càng tốt và việc tạo ra chất thải được giảm thiểu đáng kể. Ngoài ra, nền KTTH còn có vai trò phục hồi tầm quan trọng của vòng đời vật chất, giá trị và chất lượng của nó, thông qua việc làm chậm các vòng lặp (chẳng hạn như thiết kế các sản phẩm với tuổi thọ cao hơn, mở rộng giá trị sản phẩm) (Bocken và cộng sự, 2016).

Vào năm 2021, theo Circle Economy, KTTH chiếm 9,1% kinh tế toàn cầu, nhấn mạnh vào việc thúc đẩy tuần hoàn hóa các nền kinh tế quốc gia nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung, sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ suy thoái môi trường sống và bất công bằng trong xã hội. Qua các năm, lượng khí thải nhà kính tiếp tục gia tăng, chất thải rắn tiếp tục gia tăng và đạt mức tăng hơn 70% vào năm 2025 (EU, 2021), đặc biệt, tại các quốc gia đang phát triển và mức thu nhập thấp, thì việc tăng trưởng kinh tế được ưu tiên hơn so với nạn ô nhiễm môi trường và mô hình tiêu dùng, sản xuất không hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên. Bình quân, các nước đang phát triển chỉ có 20% ngân sách được chi tiêu cho việc quản lý, xử lý rác thải công nghiệp (EU, 2021). Chính vì vậy, việc chuyển đổi từ kinh tế tuyến tính sang nền KTTH trở nên ngày càng cấp thiết và việc đẩy nhanh quá trình phát triển nền KTTH là giải pháp tối ưu cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế toàn cầu.

Việt Nam là đất nước đang phát triển, nên việc tiếp cận KTTH còn chậm so với các quốc gia trên thế giới. Đến năm 2020, khái niệm KTTH ngày càng được biết đến rộng rãi và Chính phủ Việt Nam đã quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Mới đây, ngày 23/1/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 222/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2030.

Hình 1: Mô tả các nền kinh tế

kinhte1.jpg
Nguồn: Jambeck & cộng sự (2015)

Hiện nay, sáng kiến thúc đẩy KTTH đang được sự hưởng ứng mạnh mẽ của cộng đồng các doanh nghiệp và tổ chức tại Việt Nam, đây cũng là xu hướng phát triển mạnh mẽ của nhiều quốc gia. Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang dự kiến xây dựng lộ trình chiến lược thực hiện và phát triển KTTH. Đặc biệt, vào năm 2021, Ủy ban ASEAN đã ban hành Khung KTTH cho Cộng đồng kinh tế ASEAN. Khung KTTH đã đặt ra tầm nhìn dài hạn với các tham vọng về KTTH dựa trên các sáng kiến hiện có và xác định các trọng tâm ưu tiên hành động đẩy nhanh tiến trình thực hiện hóa nền kinh tế trong khối ASEAN.

2. Vai trò của KTTH đối với phát triển bền vững

Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) vào năm 2015, với trọng tâm là Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. SDGs được xem là một chương trình phát triển toàn cầu nhằm đạt được một tương lai tốt đẹp và phát triển bền vững hơn cho tất cả mọi người, với 17 mục tiêu cốt lõi được chia thành 169 mục tiêu liên kết để định hướng chiến lược phát triển toàn cầu đến năm 2030. Việc giải quyết các mục tiêu nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thế giới đang phải đối mặt, như: bất bình đẳng, nghèo đói, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, hòa bình và công lý (Lacy và cộng sự, 2014).

Nghiên cứu của Pla – Julian & Guevara (2019), Schoreder và cộng sự (2018) đã nhấn mạnh mối tương quan chặt chẽ giữa các nguyên tắc của KTTH và SDGs; đồng thời chỉ ra vai trò của KTTH như một mô hình thay thế cho việc tạo ra giá trị trong hệ thống sản xuất, đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững qua việc chỉ rõ hướng thay đổi cơ cấu cần thiết để đảm bảo sự chuyển đổi của các doanh nghiệp sang một hệ thống sản xuất tuần hoàn. Có thể thấy rằng, KTTH được xem là công cụ hỗ trợ cho sự phát triển bền vững, tuy nhiên, việc chuyển đổi sang nền KTTH hiện nay cần rất nhiều chi phí, như: nghiên cứu và phát triển, đầu tư vốn trợ cấp cho các sản phẩm mới, cũng như việc chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng xanh. Theo Huifang Tian (2018), Chính phủ Anh đã phải tiêu tốn 13 tỷ bảng Anh cho việc tạo ra một hệ thống thu hồi, khôi phục và tái tạo các sản phẩm, vật liệu ở cuối mỗi vòng sản xuất hay tiêu dùng hiệu quả. Chính vì thế, để đẩy mạnh phát triển KTTH thì cần có hệ thống, cơ chế hỗ trợ tài chính hiệu quả để có thể đáp ứng nhu cầu tài chính cho quá trình công nghiệp hóa nền KTTH.

3. Thực trạng phát triển KTTH bước đầu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, KTTH còn khá mới mẻ, với một vài mô hình KTTH bước đầu thành công. Những mô hình KTTH theo hướng sử dụng ít tài nguyên cơ bản hơn bao gồm 3 loại hình: tái chế, sử dụng hiệu quả tài nguyên và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo đã bước đầu được áp dụng ở Việt Nam. Với khu vực công nghiệp và đô thị, Việt Nam đã bắt đầu phát động phong trào chống rác thải nhựa trên toàn quốc vào năm 2019. Từ đó, nhiều chương trình được lan tỏa, nhiều hành động cụ thể, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ phương thức sản xuất và thói quen sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi nilon khó phân hủy. Liên minh chống rác thải nhựa được hình thành bởi các tập đoàn sản xuất, phân phối bán lẻ lớn, Liên minh tái chế bao bì Việt Nam được hình thành với hơn 40 doanh nghiệp lớn bao gồm: Coca-Cola, La Vie, TH Group, Nestle, Nutifood…tham gia vào chương trình tái chế rác thải nhựa. Thảo luận thiết lập hợp tác công tư về xây dựng KTTH trong quản lý rác thải nhựa tại Việt Nam đã được nhiều đơn vị tham gia thực hiện (Minh Nguyệt, 2021).

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) và Quỹ Môi trường Toàn cầu đã hỗ trợ Việt Nam hình thành 4 khu vực công nghiệp sinh thái, theo kiểu khu công nghiệp KTTH tại Ninh Bình, Đà Nẵng và Cần Thơ, trong đó có 72 doanh nghiệp tham gia nhằm tăng cường chuyển giao, triển khai và phổ biến các công nghệ sạch và carbon thấp, giảm thiểu phát thải khí nhà kính GHG, hữu cơ khó phân hủy chất ô nhiễm (POP) và chất gây ô nhiễm nước, cũng như cải thiện hiệu quả sử dụng nước và quản lý hợp lý các hóa chất. Đặc biệt, sự chia sẻ và tuần hoàn nguyên liệu, năng lượng, chất thải và nước của các khu công nghiệp sinh thái này đã giúp tiết kiệm được khoảng 6,5 triệu USD mỗi năm (UNIDO, 2019).

Tái chế nhựa, giấy và kim loại được xem là lĩnh vực có nhiều hoạt động tái chế nhất ở Việt Nam. Thời gian vừa qua, 200m đường đi tại Hải Phòng được gia cố bởi nhựa sinh hoạt tái chế nằm trong Khu công nghiệp DEEP C đã được hoàn tất thi công (Thu Hường, 2020). Sáng kiến nắp bia Tiger được tái chế thành sắt làm cầu tại Tiền Giang đã giúp thu hồi sắt, ống hút làm từ cỏ và gạo thay thế cho ống hút nhựa giúp giảm phát thải nhựa được thực hiện bắt đầu từ năm 2019 (Nguyễn Hoàng Nam, 2019). Trong vài năm gần đây, nhiều đơn vị địa phương đã thực hiện khá triệt để việc phân loại rác tại nguồn. Bên cạnh đó, việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã có những bước tiến mới. Có khá nhiều doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư và vận hành hiệu quả các trạm thủy điện nhỏ tại một số tỉnh như: Lào Cai, Hà Tĩnh, Hà Giang, Gia Lai,… Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng, Việt Nam là nước có tiềm năng gió lớn nhất trong 4 nước ở khu vực. Ở đảo Phú Quý và Bạc Liêu, các trang trại tua-bin đã hoạt động tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việt Nam có nhiều tiềm năng về nguồn năng lượng mặt trời, có thể khai thác sử dụng như: đun nước nóng, phát điện và các ứng dụng khác như sấy, nấu ăn,… Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, theo đó, công suất điện mặt trời của nước ta vào năm 2030 sẽ đạt 46.459 - 73.416 MW; định hướng đến năm 2050, tầng công suất đạt 293.088 - 295.646 MW.

Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước nông nghiệp, có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng sinh khối, trong đó các loại sinh khối như: phế thải – phụ phẩm từ cây trồng, gỗ năng lượng, chất thải chăn nuôi, rác thải ở đô thị và các rác thải hữu cơ khác. Nguồn năng lượng sinh khối như mùn cưa, bã mía, rác thải hữu cơ ở các đô thị lớn, chất thải chăn nuôi từ các trang trại gia súc, hộ gia đình và chất thải hữu cơ khác từ chế biến nông – lâm – hải sản. Mùn cưa là phụ phẩm của ngành công nghiệp gỗ đã được nhiều cơ sở sử dụng để sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chẳng hạn như: làm viên nén chất đốt thân thiện với môi trường; ủ men vi sinh làm phân bón, lót chuồng bằng mùn cưa, là nguyên liệu để sản xuất ra gạch siêu nhẹ chống cháy, sử dụng để làm những tấm gỗ ép với đủ các kích cỡ khác nhau, phù hợp với nhiều loại nhu cầu sử dụng (Lê Hằng, 2018).

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 nhằm mục tiêu huy động mọi nguồn lực xã hội thực hiện giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả để đạt được mục tiêu đến năm 2025, trong đó: đạt mức tiết kiệm năng lượng 5,0 đến 7,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2025; giảm mức tổn thất điện năng xuống mức thấp hơn 6,5%; giảm tiêu hao năng lượng bình quân cho các ngành công nghiệp. Chương trình cũng đặt ra mục tiêu xây dựng 1 trung tâm dữ liệu năng lượng Việt Nam và ít nhất 2 trung tâm đào tạo quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cùng với thành lập quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua xã hội hóa, tài trợ và hợp tác của tác nhân, tổ chức trong và ngoài nước (Châu An, 2021).

Ngày 25/7/2022, Nhà máy Điện rác Sóc Sơn đã chính thức hòa lưới điện quốc gia với công suất phát điện từ việc đốt rác của giai đoạn 1 là 15 MW. Tổng công suất của nhà máy xử lý được 5.000 tấn rác/ngày giải quyết được từ 60-70% lượng rác đang chôn lấp của TP. Hà Nội hiện nay. Đây được xem là nhà máy điện rác lớn nhất Việt Nam, với công suất 4.000 tấn rác khô, tương đương gần 5.000 tấn rác tươi mỗi ngày. Như vậy, mỗi ngày, nhà máy này sẽ tiêu thụ đến 80% lượng rác cần chôn lấp mỗi ngày của TP. Hà Nội (Trần Thường, 2022)

Hình 2: Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về rác thải nhựa ra biển

kinhte2.jpg
Nguồn: Jambeck & cộng sự (2015)

4. Cơ hội và thách thức phát triển KTTH tại Việt Nam

Cơ hội

Hiện nay, Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, với tốc độ hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế. Có thể thấy, hầu hết các hiệp định đều đưa ra các quy định, hay thỏa thuận về sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó với các biến đổi khí hậu, bên cạnh đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải chất thải, khí thải. Đây được xem là những tiền đề để thúc đẩy Việt Nam tăng tốc chuyển sang mô hình KTTH nhanh hơn.

Việt Nam đang có nhiều thuận lợi trong áp dụng KTTH, trong việc học tập kinh nghiệm thực tiễn về các mô hình phát triển KTTH từ các quốc gia phát triển trên thế giới. Việt Nam đã tận dụng được các cơ hội hợp tác về tiếp nhận chuyển giao các công nghệ và thiết kế, chế tạo, công nghệ thông tin hiện đại, nên đã đưa ra một số mô hình như: thu gom sắt vụn để tái chế; thu gom tái chế giấy; mô hình sản xuất xanh – sạch hơn trong sản xuất công nghiệp quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ; trong nông nghiệp có mô hình vườn – ao – chuồng, vườn – rừng – ao – chuồng; thu hồi rác từ chất thải vật nuôi. Ngoài ra, việc sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biển đổi khí hậu đã được toàn xã hội nhận thức một cách rõ ràng và đầy đủ hơn. Các chiến dịch về môi trường như chống rác thải nhựa đã được cộng đồng doanh nghiệp và người dân trên cả nước tích cực hưởng ứng và tham gia.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển KTTH (ICED) thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, với vai trò một trung tâm nghiên cứu công nghệ, chính sách trong phát triển KTTH tại Việt Nam trên nền tảng một hệ sinh thái doanh nghiệp – Chính phủ - trường đại học, để giữ vai trò kết nối nền KTTH trên thế giới với Việt Nam và ngược lại...

Các chính sách mà Chính phủ đưa ra trong thời gian vừa qua, nhằm mục đích khuyến khích và tạo cơ chế cho kinh tế tư nhân phát triển trong bối cảnh thị trường cạnh tranh đã mang đến nhiều cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân vào thực hiện phát triển KTTH trong thời gian tới. Ngoài ra, việc đẩy mạnh đổi mới công nghệ, chuyển từ thế giới thực sang thế giới số trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng là cơ hội lớn để thực hiện phát triển KTTH – đây được xem là động lực, là cơ hội để Việt Nam đẩy nhanh phát triển nền KTTH.

Thách thức

Thứ nhất,thách thức lớn nhất trong quá trình áp dụng KTTH là chi phí thu hồi giá trị từ chất thải. Với hình thức hoạt động là mô hình khép kín khi sử dụng chất thải của chu kỳ này làm nguyên liệu đầu vào cho chu kỳ mới. Trong vòng 15 năm tới, dự đoán lượng rác thải tại Việt Nam sẽ tăng gấp đôi, tỷ lệ tái chế rác thải của Việt Nam chỉ đạt dưới 10% tổng lượng chất thải – đây được xem là một tỷ lệ nhỏ so với các nước đã và đang thực hiện mô hình KTTH. Với tỷ lệ rác thải nhựa và túi nilon cả nước hiện chiếm khoảng tỷ lệ 8% - 12% trong tổng chất thải rắn sinh hoạt, đã gây khó khăn trong việc quản lý thu gom và tái chế lại tài nguyên rác.

Thứ hai,các điều kiện pháp lý, và điều kiện hạ tầng cho phát triển KTTH còn nhiều thiếu sót, gây khó khăn trong quá trình triển khai các mô hình kinh doanh mới. Để xây dựng nền KTTH hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được chiến lược sản xuất và lập kế hoạch cụ thể trong việc sản xuất, sử dụng sản phẩm để đưa các nguyên liệu trở lại sản xuất sau này. Để làm được điều này cần có sự đầu tư lớn vào kết cấu hạ tầng cho việc thu gom, phân loại và tái chế rác thải. Ngoài ra, nhu cầu về sử dụng các sản phẩm của nền KTTH và các sản phẩm thay thế còn ít. Hiện nay, các chỉ số đo lường tổng sản phẩm trong nước (GDP) vẫn chưa chú trọng xem xét các yếu tố thuộc về môi trường và xã hội, chưa khuyến khích việc tạo ra giá trị trong cả hai lĩnh vực này.

Thứ ba,nhận thức của doanh nghiệp và người dân về KTTH còn nhiều hạn chế, chưa có được nhận thức cao về vấn đề tái chế rác và chưa nhận thức được rằng “rác cũng là một tài nguyên quý giá”. KTTH đòi hỏi một sự phối hợp chia sẻ thực sự gắn bó với lợi ích của doanh nghiệp và người dân. Vì vậy, việc gắn kết các bên liên quan để thực hiện KTTH thật sự là một thử thách lớn, bởi vì mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp là hướng tới việc “tối đa hóa lợi nhuận”.

Thứ tư,nguồn lực thực hiện việc chuyển đổi KTTH ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nền KTTH đòi hỏi tốn nhiều chi phí, bên cạnh đó gắn với khoa học và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Về nguồn lực nhân sự, cần có đội ngũ chuyên gia giỏi để thực hiện tốt các khâu từ chuẩn bị đến khâu cuối cùng của quá trình xử lý – tái sử dụng rác thải. Hiện tại, Việt Nam còn yếu cả về nguồn lực nhân sự và tiềm lực kinh tế.

5. Giải pháp thúc đẩy phát triển KTTH ở Việt Nam

Việt Nam cần thực hiện nhiều giải pháp phù hợp để đẩy mạnh phát triển KTTH:

Một là,Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, các quy định pháp luật, các tiêu chuẩn phát triển KTTH phù hợp với xu thế kinh tế của thế giới và trong khu vực. Đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường, kỹ thuật áp dụng và công cụ thuế… để hạn chế việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên quá mức, nhằm hạn chế được lượng rác thải trong quá trình sản xuất. Mạnh dạn trong việc đổi mới mô hình KTTH – nền kinh tế dựa vào hiệu suất sử dụng yếu tố nguyên liệu đầu vào từ các quy trình sản xuất trước đó, giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm và hiệu quả.

Hai là,đẩy mạnh xây dựng mô hình tăng trưởng KTTH, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào các ngành nghề có xử lý rác thải và có tái tạo nguyên liệu mới. Đưa ra các lộ trình thay thế nhiên liệu, thay thế các sản phẩm sử dụng nguyên liệu nguy hại, sử dụng một lần bằng các nguyên liệu, nhiên liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm sử dụng nhiều lần, nhằm kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm.

Ba là,tăng cường tuyên truyền để các doanh nghiệp và người dân thấy được KTTH là điều cần thiết phải đạt được để giúp nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững. Hướng dẫn người dân sử dụng nhiều hơn nữa các sản phẩm hàng hóa thân thiện với môi trường, các sản phẩm dán nhãn CE (European Conformity). Ngoài ra, cần nâng cao ý thức về phân loại rác thải tại nguồn đến với từng người dân, để tạo điều kiện cho việc thu gom và vận chuyển rác nhằm tái sử dụng được thuận lợi hơn, giúp giảm thiểu chi phí trong việc sử dụng và tái chế rác thải.

Bốn là,xây dựng những chương trình giảng dạy về KTTH ở các cấp, nhằm giúp đưa các kiến thức cơ bản đến gần hơn với học sinh – sinh viên; để từ đó góp phần xây dựng và đào tạo nên nguồn nhân lực đủ trình độ trong tương lai, có khả năng vận hành mô hình KTTH ở những giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:

- Trần Thị Xuân Anh và các cộng sự, 2022, Kinh tế tuần hoàn: Cơ hội và thách thức đối với phát triển bền vững tại Việt Nam.

- Nhĩ Anh, 2023, Kinh tế tuần hoàn: Lời giải cho phát triển bền vững, Tạp chí Kinh tế điện tử. https://vneconomy.vn/kinh-te-tuan-hoan-loi-giai-cho-phat-trien-ben-vung.htm

https://vneconomy.vn/kinh-te-tuan-hoan-loi-giai-cho-phat-trien-ben-vung.htm

- Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017: chuyên đề quản lý chất thải rắn. NXB Tài nguyên và Môi trường.

- Chính phủ, 2015, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.

- T.S Nguyễn Thị Phong Lan, 2022, Kinh tế tuần hoàn hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/825071/kinh-te-tuan-hoan-huong-toi-phat-trien-ben-vung-o-viet-nam.aspx

- Hồ Quế Hậu, 2022, Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Những bước đi ban đầu và giải pháp.

- Đô thị không rác. https://grac.vn/

- Thảo Phương, 2022, Mô hình kinh doanh tuần hoàn: Hướng phát triển bền vững cho doanh nghiệp, Báo Quân đội nhân dân. https://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/mo-hinh-kinh-doanh-tuan-hoan-huong-phat-trien-ben-vung-cho-doanh-nghiep-703175

- ThS. Bùi Quang Trung, Th.S Phạm Hữu Năm, 2020, Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính.

Bài đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số tháng 5 năm 2025.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.