
(Công Thương) - Doanh nghiệp biết tiết kiệm năng lượng có lợi, biết cả cách làm nhưng từ chỗ biết đến chỗ làm vẫn còn một quãng đường mang tên dòng vốn. Từ đầu năm 2026, một bộ luật và một nghị định mới lần đầu trao cho miền Trung những công cụ tài chính chưa từng có: mô hình ESCO, Quỹ thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu. Vấn đề còn lại là đưa công cụ ấy vào cuộc sống.
Ba kỳ trước của tuyến bài đã cho thấy một nghịch lý. Vành đai công nghiệp ven biển miền Trung tiêu thụ năng lượng khổng lồ, dư địa tiết kiệm 20 đến 35%; những đầu tàu như Thép Hòa Phát Dung Quất, Lọc dầu BSR hay cụm xi măng đã chứng minh tiết kiệm năng lượng không phải khẩu hiệu mà là tiền tươi, hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm; và cơ chế CBAM của EU đã biến việc giảm cường độ phát thải từ "nên làm" thành "phải làm" để giữ thị trường xuất khẩu.
Vậy vì sao phần lớn doanh nghiệp còn lại vẫn chưa triển khai? Câu trả lời gọn trong ba chữ: bài toán vốn. Một dự án thu hồi nhiệt dư, một hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001 hay một dàn biến tần cho động cơ đều cần chi phí đầu tư ban đầu không nhỏ, trong khi khoản tiết kiệm chỉ về dần qua hóa đơn điện nhiều năm sau. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không có sẵn vốn, còn ngân hàng địa phương lâu nay coi dự án hiệu quả năng lượng là loại rủi ro cao, khó thẩm định nên cho vay dè dặt. Khoảng trống đó cần một cơ chế tài chính đứng ra bắc cầu.
Bước ngoặt đến từ đầu năm 2026. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 77/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 18/6/2025 với 425 trên 426 đại biểu tán thành, chính thức có hiệu lực từ 1/1/2026. Luật sửa 19 điều, bổ sung một điều mới và quan trọng nhất là lần đầu đưa vào khung pháp luật bốn nhóm chính sách có sức nặng tài chính.
Đáng chú ý nhất với bài toán vốn là hai công cụ. Thứ nhất, mô hình ESCO, tức công ty dịch vụ năng lượng, cùng khái niệm "hợp đồng hiệu quả năng lượng" và "chứng chỉ quản lý năng lượng", lần đầu được luật ghi nhận. Thứ hai, Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được lập theo hướng xã hội hóa, bảo đảm độc lập tài chính, không trùng lặp với nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để hỗ trợ các dự án cải tạo, nâng cấp công nghệ tiết kiệm năng lượng. Hai nhóm còn lại là mở rộng dán nhãn năng lượng sang vật liệu xây dựng và bổ sung ưu đãi thuế, đất đai cho sản phẩm tiết kiệm năng lượng.
Hệ thống điện mặt trời mái nhà tại Công ty CP Cao su Đà Nẵng
Tiếp đó, ngày 21/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 30/2026/NĐ-CP, gồm 8 chương, 29 điều, thay thế Nghị định 21/2011/NĐ-CP đã dùng suốt mười lăm năm. Nghị định mới quy định chi tiết cách xác định cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, công tác kiểm toán năng lượng, dán nhãn, đặc biệt là cơ chế vận hành Quỹ thúc đẩy tiết kiệm năng lượng cùng hành lang cho tổ chức dịch vụ năng lượng ESCO. Ngưỡng cơ sở trọng điểm vẫn giữ nền cũ: cơ sở sản xuất công nghiệp tiêu thụ từ 1.000 TOE mỗi năm trở lên thuộc diện trọng điểm phải kiểm toán năng lượng định kỳ ba năm một lần; danh sách do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và công bố mỗi năm trước ngày 31/3.
Như vậy, lần đầu tiên doanh nghiệp miền Trung muốn đầu tư tiết kiệm năng lượng có trong tay một bộ công cụ tài chính được luật bảo trợ, thay vì chỉ trông vào vốn tự có.
ESCO là mô hình được trông đợi nhất, bởi nó gỡ đúng nút thắt vốn. Thay vì doanh nghiệp tự bỏ tiền, công ty dịch vụ năng lượng đứng ra đầu tư thiết bị và giải pháp, rồi thu hồi chi phí từ chính khoản tiền điện tiết kiệm được, theo hợp đồng hiệu quả năng lượng. Doanh nghiệp gần như không phải bỏ vốn ban đầu mà vẫn được cam kết hiệu quả.
Mô hình hay là vậy, nhưng thực tế triển khai ở Việt Nam, trong đó có miền Trung, vẫn chậm. Trước khi Luật số 77/2025/QH15 có hiệu lực, ESCO vướng cùng lúc nhiều rào cản. Về pháp lý, Luật cũ năm 2010 không đưa dịch vụ ESCO vào nhóm giải pháp được hỗ trợ. Về tài chính, thiếu cơ chế tài trợ phù hợp, các tổ chức tín dụng địa phương xem dự án hiệu quả năng lượng là rủi ro cao và thiếu năng lực thẩm định. Đặc biệt, cơ chế thanh toán qua hóa đơn điện, vốn là then chốt để ESCO thu hồi vốn, trước đây chưa được pháp luật Việt Nam cho phép. Đến giữa năm 2025, thị trường vẫn còn nhận định ESCO ở Việt Nam đang "từ mô hình triển vọng thành khái niệm mơ hồ", đủ thấy khoảng cách giữa kỳ vọng và thực thi.
Luật mới gỡ phần lớn vướng mắc về danh nghĩa pháp lý. Nhưng từ luật đến dòng tiền thực còn phụ thuộc ba việc: nghị định và thông tư hướng dẫn đi vào vận hành, ngân hàng thay đổi cách nhìn rủi ro và bản thân doanh nghiệp đủ tin để ký hợp đồng dài hạn với một bên thứ ba can thiệp vào dây chuyền của mình.
Ông Nguyễn Tất Tú Linh, Giám đốc Thương mại Quỹ đầu tư SUN Energy tại Việt Nam, chuyên gia năng lượng cho rằng miền Trung có nhiều tiềm năng để phát triển ESCO.
Đây là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp lớn tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Huế, Gia Lai..., với nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực dệt may, chế biến gỗ, thủy sản, vật liệu xây dựng, cơ khí... Đây đều là những ngành có cường độ sử dụng năng lượng cao.
Ngoài ra, áp lực về giảm chi phí sản xuất và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu ngày càng lớn cũng khiến nhu cầu tiết kiệm năng lượng tăng lên. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn còn gặp một số khó khăn.
Thứ nhất,định nghĩa về ESCO vẫn còn khá mới. Nhiều doanh nghiệp vẫn quen với việc tự đầu tư thay vì chia sẻ lợi ích với đơn vị ESCO.
Thứ hai, việc xác định mức tiết kiệm năng lượng và phương pháp đo lường, xác minh (M&V) còn khiến nhiều doanh nghiệp băn khoăn.
Thứ ba,nhiều nhà máy có quy mô vừa và nhỏ, giá trị dự án không lớn nên thời gian đánh giá, đàm phán và ký kết hợp đồng khá dài so với quy mô đầu tư.
Ngoài ra, nguồn nhân lực về kiểm toán năng lượng, thiết kế giải pháp và tài chính dự án tại khu vực miền Trung vẫn còn hạn chế.
“Theo kinh nghiệm của chúng tôi, vấn đề lớn nhất không phải là công nghệ mà là niềm tin. Khách hàng thường đặt ra ba câu hỏi: (1) Liệu mức tiết kiệm có đạt đúng như cam kết hay không; (2) đối tác đồng hành có đáng tin cậy?; (3) phương pháp hợp tác đầu tư có khả thi? Đây là những băn khoăn hoàn toàn hợp lý vì ESCO là mô hình chia sẻ lợi ích dựa trên kết quả thực tế”,ông Nguyễn Tất Tú Linh chỉ ra.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng lo ngại việc cải tạo hệ thống sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hoặc làm gián đoạn hoạt động của nhà máy.
Một yếu tố nữa là thời gian hoàn vốn của các dự án hiệu quả năng lượng thường kéo dài từ 3–7 năm, trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn có xu hướng ưu tiên các khoản đầu tư mang lại hiệu quả nhanh hơn.
Do đó, để "chốt" được hợp đồng ESCO, ngoài giải pháp kỹ thuật, phía nhà đầu tư ESCO cần chứng minh năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai và có phương pháp đo lường tiết kiệm năng lượng minh bạch theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Chuyên gia từ SUN Energy đánh giá, việc Luật 77/2025/QH15 chính thức bổ sung quy định về tổ chức dịch vụ năng lượng và hợp đồng hiệu quả năng lượng là một bước tiến rất quan trọng.
“Việc Luật ghi nhận chính thức mô hình ESCO sẽ giúp tăng tính minh bạch, tạo niềm tin cho thị trường và là cơ sở để các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư mạnh dạn tham gia tài trợ các dự án tiết kiệm năng lượng. Luật đã mở ra cánh cửa pháp lý, nhưng để thị trường phát triển thực sự thì vẫn cần thêm nhiều chính sách hỗ trợ và phải thu hút được nhiều vốn đầu tư trong giai đoạn tiếp theo”,ông Nguyễn Tất Tú Linh nhìn nhận.
Hiện nay, 98% doanh nghiệp sản xuất miền Trung là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Rào cản đối với những đơn vị này đã được chỉ ra từ thực tế: Thiếu vốn, yếu công nghệ, còn “bó” về nhận thức.
“Chúng tôi vẫn liên tục cải tiến máy móc, đầu tư công nghệ để tối ưu hơn việc sử dụng năng lượng. Ở khâu đang tiêu thụ năng lượng nhiều nhất là chưng cất và khử nước tiêu thụ (sử dụng lượng hơi lớn để đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật ethanol E100), chúng tôi định hướng sẽ tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ, chưng cất áp suất, sử dụng các loại enzyme thế hệ mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng (hơi). Dù vậy, lộ trình này cần thời gian do cần nguồn vốn lớn”,ông Phạm Văn Tĩnh, Phó Giám đốc nhà máy Ethanol Quảng Nam (Công ty TNHH sản xuất ethanol Quảng Nam, TP. Đà Nẵng) nói.
Không chỉ khối SMEs, các doanh nghiệp lớn cũng bày tỏ mong muốn cần có những đòn bẩy về tài chính xanh để doanh nghiệp đầu tư hơn nữa tăng tỷ lệ tiết kiệm năng lượng.“Cần tăng cường những ưu đãi đầu tư cho các hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải. Nhà nước nên triển khai các gói tín dụng ưu đãi, chính sách miễn giảm thuế hoặc cơ chế khấu hao nhanh đối với các công nghệ carbon thấp như WHR, năng lượng tái tạo và hệ thống sử dụng nhiên liệu thay thế”,ông Supakit Phucharoensilp, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần xi măng Sông Gianh kiến nghị.
Hệ thống điện mặt trời tại thép Hòa Phát Dung Quất.
Trước những chờ mong của doanh nghiệp, Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là điểm tựa tài chính được kỳ vọng kế tiếp. Theo thiết kế trong Luật 77/2025/QH15 và Nghị định 30/2026, Quỹ vận hành theo hướng xã hội hóa, hỗ trợ tài chính cho các dự án cải tạo và nâng cấp công nghệ. Tuy nhiên, đây là thiết chế mới. Và đến thời điểm hiện tại, Bộ Công Thương đang nỗ lực để hoàn thiện đề án thành lập Quỹ.
Trong lúc chờ Quỹ chạy, đã có những mảnh ghép tài chính xanh hiện diện ở vùng. Dự án Thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp Việt Nam (VSUEE), do Quỹ Khí hậu xanh tài trợ thông qua Ngân hàng Thế giới với quy mô khoảng 11,3 triệu USD, triển khai giai đoạn 2022 đến 2026, vận hành như một cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các dự án tiết kiệm năng lượng và ESCO. Cần lưu ý: VSUEE bảo lãnh để ngân hàng yên tâm cho vay, chứ không rót vốn trực tiếp xuống từng nhà máy. Đây đúng là mô hình chia sẻ rủi ro mà thị trường đang cần, và cũng là gợi ý cho cách Quỹ trong nước nên thiết kế.
Bên cạnh ESCO và Quỹ, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu là hướng đầu tư mà doanh nghiệp có thể tự chủ ngay. Nghị định số 135/2024/NĐ-CP, hiệu lực từ 22/10/2024, cho phép lắp điện mặt trời trên mái nhà xưởng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất với chín nhóm ưu đãi: hệ tự dùng đủ điều kiện được miễn giấy phép hoạt động điện lực, không giới hạn công suất lắp đặt, và được bán phần điện dư tối đa 20% công suất lắp đặt. Với nhà máy có diện tích mái lớn và nhu cầu điện ban ngày cao, đây là cách vừa giảm tiền điện, vừa giảm cường độ phát thải để ứng phó CBAM.
Nhiều doanh nghiệp đầu đàn ở vùng đã đi trước. Tại Đà Nẵng, Công ty Cao su Đà Nẵng (DRC) lắp điện mặt trời mái nhà gần 4 MW và chuyển toàn bộ sang đèn LED. Tại Chu Lai, hệ thống điện mặt trời của THACO ở cảng quốc tế đạt quy mô 5.100 kWp. Những con số này cho thấy mô hình đã chạy được trên thực địa, không còn là lý thuyết.
Tổng Công ty Điện lực miền Trung cho biết, đến tháng 6/2026, toàn EVNCPC hiện có 32.164 hệ thống điện mặt trời mái nhà, tổng công suất 3.338,32 MWp. Trong đó, 2.804 hệ thống điện mặt trời mái nhà (với công suất 1.216 MWp) lắp đặt ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, khu công nghiệp, chiếm 36,4% công suất; có 5.393 hệ thống được lắp đặt theo Nghị định số 58 NĐ/CP của Chính phủ.
Sở Công Thương các địa phương miền Trung triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Riêng tại Đà Nẵng, ông Bùi Đỗ Quốc Huy, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Đà Nẵng cho biết, TP. Đà Nẵng có hơn 160 doanh nghiệp sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 129 MWp. Trong đó có 116 hệ thống điện mặt trời mái nhà lắp đặt trước năm 2021 với tổng công suất 81,3 MWp; có 46 hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ phát triển theo quy định tại Nghị định số 58/2025/NĐ-CP của Chính phủ với tổng công suất 47,6 MWp.
Ông Phan Chí Công, Trưởng phòng Kỹ thuật Cơ năng Công ty CP Cao su Đà Nẵng (DRC): Chúng tôi đang vận hành hệ thống điện mặt trời mái nhà khoảng 4MW, đáp ứng chủ động được khoảng 5 - 7% tổng lượng điện tiêu thụ, tiết giảm được hơn 600 triệu đồng/tháng. Theo kế hoạch, 3 năm tới, DRC sẽ tiếp tục lắp đặt, nâng tổng công suất điện mặt trời mái nhà lên 8 – 10 MW, đáp ứng 10 – 15% lượng điện tiêu thụ của công ty.
Đây mới chỉ là con số của các tỉnh miền Trung do EVNCPC quản lý (từ Quảng Trị trở vào đến Khánh Hòa). Còn 3 địa phương của miền Trung khác là: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh do Tổng Công ty Điện lực miền Bắc quản lý (EVNNPC) cũng có hàng nghìn hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được lắp đặt.
Đơn cử như tại Thanh Hóa, lãnh đạo PC Thanh Hóa cho biết, đến hết tháng 4/2026, PC Thanh Hóa đang quản lý 605 khách hàng điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 66.561,34 kWp. Trong đó, có 284 khách hàng lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà theo Nghị định số 58/2025/NĐ-CP với tổng công suất 9,430MW.
Nếu vốn là nút thắt, thì cơ quan quản lý và ngành điện chính là bên bắc giàn. Ở khâu cầu nối thị trường điện, EVNCPC đã có chương trình điều chỉnh phụ tải (DR) và dịch chuyển phụ tải đáng kể. Đến tháng 6/2026, EVNCPC đã làm việc với 1.164 khách hàng tham gia chương trình dịch chuyển phụ tải, đạt tỷ lệ ký kết 100%, với tiềm năng dịch chuyển gần 91 MW. Chương trình điều chỉnh phụ tải điện tự nguyện có 1.925 khách hàng ký thỏa thuận tham gia, với tiềm năng điều chỉnh hơn 255 MW, góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện trong các thời điểm phụ tải tăng cao. Tham gia DR, doanh nghiệp bố trí lại sản xuất để giảm phụ tải giờ cao điểm, đổi lại được nâng độ tin cậy cấp điện và ưu tiên xử lý sự cố. Đây là cách tiết kiệm chi phí gần như không tốn vốn đầu tư, chỉ cần thay đổi cách vận hành.
Ở khâu hỗ trợ kỹ thuật và thủ tục, các Sở Công Thương đóng vai dẫn dắt. Tại TP. Huế, Sở Công Thương thành phố đã hỗ trợ 2 doanh nghiệp sử dụng năng lượng trọng điểm xây dựng và thí điểm áp dụng quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001; bên cạnh đó, hỗ trợ đánh giá thực trạng sử dụng năng lượng và tiềm năng tiết kiệm năng lượng cho 36 doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp Phú Bài 1.
Tại Đà Nẵng, Sở Công Thương đã liên tục tổ chức các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật các chủ trương, chính sách mới, cũng như mời các chuyên gia năng lượng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với các xu hướng công nghệ mới trong quản lý năng lượng. Tại tỉnh Quảng Nam cũ, nay là phía Nam TP. Đà Nẵng, trong giai đoạn 2020 – 2025, Sở Công Thương đã tổ chức nhiều đợt hỗ trợ doanh nghiệp kiểm toán năng lượng, xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001 tại một số doanh nghiệp sử dụng năng lượng trọng điểm. Ngoài ra, nhiều hoạt động về tư vấn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được TP. Đà Nẵng (bao gồm TP. Đà Nẵng (cũ) và tỉnh Quảng Nam (cũ)) tích cực triển khai. Đây là phần việc nền: doanh nghiệp phải kiểm toán để biết mình lãng phí ở đâu, trước khi tính chuyện vay vốn hay ký hợp đồng ESCO.
Ở góc độ mục tiêu, thành phố này đặt mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030 sẽ đạt mức tiết kiệm năng lượng tối thiểu 5% so với dự báo tổng tiêu thụ năng lượng toàn thành phố trong giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030, góp phần đạt mức tiết kiệm năng lượng tối thiểu 7% tổng tiêu thụ năng lượng toàn thành phố trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2030. Phấn đấu đạt tỷ lệ tiết kiệm điện tối thiểu 3%/năm đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm. Đến năm 2030, 100% cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng. Đây là những con số đầy tham vọng và cần có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy thực thi đủ mạnh tương ứng.
Mảnh ghép còn thiếu là sự liền mạch từ chính sách đến dòng tiền: kiểm toán xong rồi vay ở đâu, ai bảo lãnh, Quỹ khi nào mở, ESCO lấy gì bảo đảm thu hồi vốn. Khi bốn câu hỏi này được trả lời đồng bộ, những kilowatt ngủ quên mới thật sự được đánh thức bằng vốn chứ không chỉ bằng nghị quyết.
“Cần có thêm các chính sách tín dụng xanh, quỹ bảo lãnh hoặc ưu đãi tài chính dành riêng cho các dự án ESCO để giảm chi phí vốn và tăng khả năng triển khai”,chuyên gia năng lượng từ SUN Energy tại Việt Nam Nguyễn Tất Tú Linh khuyến nghị.
Luật đã mở, nghị định đã ban, công cụ tài chính lần đầu có tên trong văn bản. Nhưng vốn chỉ chảy khi cả ba phía cùng động: nhà nước vận hành Quỹ và bảo lãnh rủi ro, ngân hàng đổi cách nhìn, doanh nghiệp đủ tin để ký. Kỳ cuối của tuyến bài sẽ đi tìm lời giải tổng thể: đánh thức cách nào để miền Trung không bỏ phí những kilowatt đang ngủ quên.