Thứ năm, 20/08/2026

Không để lãng phí công sản: Nhìn từ cuộc thanh tra nhà đất lớn nhất

Không để lãng phí công sản: Nhìn từ cuộc thanh tra nhà đất lớn nhất — Báo Công Thương

(Công Thương) - Kỳ 3: Thanh tra – từ truy sai phạm tới khơi thông

Báo Công Thương đã thu thập toàn văn 78 kết luận thanh tra về đất đai và tài sản công từ năm 2013 tới nay. Kết quả phân tích cho thấy một chuyển biến ít được nói tới: Tỷ lệ kết luận nêu sai phạm giảm từ 96,7% xuống 57,1%, còn tỷ lệ nhắc tới khơi thông nguồn lực tăng gần chín lần. Cơ quan thanh tra đã đổi cách làm. Nhưng bốn nút thắt khiến trụ sở nằm im thì vẫn còn nguyên đó.

Tỷ lệ kết luận nêu khả năng xử lý ngay

Tỷ lệ kết luận nêu sai phạm, vi phạm

Qua các số liệu, chúng tôi nhận thấy một điều, có lẽ cơ quan Thanh tra đã quan tâm hơn nhiều tới một mục tiêu: từ truy sai phạm sang khơi thông

Để đo chuyển biến, chúng tôi chia 78 kết luận thành ba nhóm theo năm ban hành, rồi đếm tần suất xuất hiện của mười hai nhóm dấu hiệu trong toàn văn. Phép tính khoa học, khách quan, không qua đánh giá cảm tính.

Đọc bảng này theo chiều ngang sẽ thấy hai xu hướng ngược nhau rất rõ.

Nhóm dấu hiệu thứ nhất, gắn với việctruy trách nhiệm, đi xuống đều: Sai phạm, kiểm điểm, thu hồi tiền. Riêng kiến nghị thu hồi tiền, từ 20% xuống còn 0% trong nhóm kết luận năm 2026.

Nhóm dấu hiệu thứ hai, gắn với việckhơi thông, đi lên mạnh: Khả năng xử lý ngay tăng hơn mười lần, khơi thông nguồn lực tăng gần chín lần.

Đó không phải sự ngẫu nhiên về câu chữ. Đó là thay đổi về mục tiêu của chính hoạt động thanh tra.

Trước năm 2020, thanh tra về đất đai chủ yếu đi theo vụ việc, theo dự án, theo đơn thư. Nội dung tập trung vào sai phạm trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng. Giai đoạn 2021 tới 2025, trọng tâm chuyển sang thanh tra trách nhiệm người đứng đầu, gắn đất đai với đầu tư xây dựng và khai thác khoáng sản. Đến năm 2026, lần đầu tiên có một cuộc thanh tratheo chuyên đề, đồng loạt, bao phủ 100% đối tượng, với mục tiêu đặt ra ngay trong kế hoạch không phải là tìm cho ra sai phạm mà làđưa tài sản trở lại sử dụng.

Một chi tiết nói lên điều đó: Hầu hết kết luận năm 2026 đều có riêng một mục mang tên khả năng xử lý ngay và nguồn lực khơi thông, kèm số cơ sở và số mét vuông cụ thể. Mục này không có trong các kết luận thanh tra đất đai những năm trước.

Cần nói rõ về cỡ mẫu để bạn đọc tự thẩm định: Nhóm năm 2026 gồm 14 kết luận, là toàn bộ số đã công bố tính đến thời điểm khảo sát. Đây là mẫu nhỏ, nên các tỷ lệ mang tính chỉ báo xu hướng hơn là con số tuyệt đối.

VÌ SAO PHẢI CÓ CƠ CHẾ ĐẶC THÙ?

Nếu chỉ đọc phần tồn tại của các kết luận, người ta dễ kết luận rằng nguyên nhân nằm ở sự thiếu trách nhiệm. Nhưng đọc phần nguyên nhân khách quan, bức tranh khác hẳn.

Kết luận đối với một bộ ghi nhận: Các quy định hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Nghị định 167/2017/NĐ-CP“còn thiếu cụ thể, khó khăn trong thực hiện, kiểm tra, giám sát, đã được Chính phủ ban hành nghị định thay thế”.

Chính cơ quan thanh tra thừa nhận quy định không đủ rõ để làm. Và bằng chứng mạnh nhất cho nhận định ấy là Chính phủ đã phải ban hành liên tiếp hai nghị định thay thế trong cùng năm 2025: Nghị định 03/2025/NĐ-CP và Nghị định 186/2025/NĐ-CP. Sau đó là Nghị định 155/2025/NĐ-CP về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Rồi Nghị định 108/2025/NĐ-CP về cho thuê tài sản công.

Bốn nghị định trong một năm cho cùng một nhóm vấn đề. Đó là chỉ dấu rõ nhất rằng khung pháp lý trước đó không vận hành được trong thực tế.

Đỉnh điểm là ngày 24/6/2026, Chính phủ ban hành hẳn Nghị quyết 31/2026/NQ-CP vềcác cơ chế, chính sách đặc thùnhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư. Thông tin báo chí của Bộ Tài chính giải thích lý do rất thẳng thắn:“Nếu thực hiện theo quy trình thông thường quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành sẽ khó đáp ứng yêu cầu xử lý nhanh, triệt để theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.”

Nói cách khác, quy trình thông thường đã được xác định là không đủ nhanh, nên phải có cơ chế đặc thù.

NÚT THẮT QUY HOẠCH

Nút thắt thứ hai nằm ở khâu chuyển giao giữa trung ương và địa phương. Nó có hình hài rất cụ thể trong các kết luận.

Kết luận đối với Thành phố Hải Phòng cho thấy toàn cảnh. Trong 363 cơ sở nhà, đất dôi dư đã chuyển về Trung tâm phát triển quỹ đất, phương án đề xuất gồm: Đấu giá đất ở 192 cơ sở, đấu giá đất thương mại dịch vụ 51 cơ sở, cho thuê ngắn hạn 120 cơ sở.

Nhưng đọc kỹ hơn thì thấy điểm nghẽn. Trong 192 cơ sở đấu giá đất ở, chỉ107 cơ sở thực hiện được ngay, còn85 cơ sở cần điều chỉnh quy hoạch. Trong 51 cơ sở đấu giá đất thương mại dịch vụ, chỉ 20 cơ sở làm được ngay, 31 cơ sở phải chờ điều chỉnh quy hoạch.

Cộng lại,116 trên 243 cơ sở dự kiến đấu giá, tức gần một nửa, đang chờ điều chỉnh quy hoạch. Đây không phải lỗi của người quản lý tài sản. Điều chỉnh quy hoạch là một quy trình riêng, thẩm quyền riêng, thời gian riêng. Quy trình ấy dài hơn nhiều so với thời hạn xử lý tài sản mà cấp trên yêu cầu.

Kết luận Hải Phòng cũng nêu một nguyên nhân rất đáng suy nghĩ: Các đơn vị sau sắp xếp, hợp nhất“có khối lượng lớn các hồ sơ, thủ tục cần giải quyết để đảm bảo đưa bộ máy vào vận hành ổn định nên chưa quan tâm đến công tác quản lý, cập nhật hồ sơ đất đai”.

Đây là mâu thuẫn thật của giai đoạn chuyển tiếp: Bộ máy mới phải chạy ngay, mà hồ sơ tài sản của bộ máy cũ thì cần thời gian. Khi hai việc cùng gấp, việc nào không có người dân đứng chờ trước cửa sẽ bị lùi lại.

Nút thắt thứ ba xuất hiện rõ nhất ở đô thị lớn, nơi trụ sở dôi dư không thiếu người muốn dùng nhưng lại không đủ điều kiện để dùng.

Cách xử lý được nhiều nơi lựa chọn là chuyển công năng trụ sở cũ thành trường học, trạm y tế, nhà văn hóa cộng đồng. Nghe rất hợp lý, vừa tránh lãng phí vừa phục vụ dân sinh. Nhưng kết luận đối với Thành phố Hà Nội chỉ ra vướng mắc: Việc chuyển đổi công năng cơ sở nhà, đất dôi dư làm cơ sở văn hóa, y tế“chưa phù hợp tiêu chuẩn, định mức”.

Một trụ sở hành chính cũ có kết cấu, diện tích phòng, lối thoát hiểm, hệ thống kỹ thuật thiết kế cho công việc hành chính. Chuyển thành trạm y tế thì phải đạt chuẩn ngành y tế. Chuyển thành trường học thì phải đạt chuẩn ngành giáo dục. Không đạt chuẩn thì không được cấp phép hoạt động. Tài sản lại tiếp tục nằm im.

Cùng kết luận ấy còn nêu22 phường, xã chưa ban hành quyết định tiêu chuẩn, định mức diện tích. Chưa có tiêu chuẩn thì không có căn cứ để nói cái gì thừa, cái gì thiếu. Mọi phương án vì thế đều treo.

Cũng vì thế mà Hà Nội, dù chỉ có 29 cơ sở dôi dư, con số rất nhỏ so với Bắc Ninh hay Hải Phòng, lại chỉ đạt tỷ lệ20 trên 29 cơ sở có khả năng xử lý ngay, tức 68,96%, thấp hơn hẳn Bộ Nội vụ và Bộ Công Thương cùng đạt 100%. Quy mô nhỏ không đồng nghĩa với dễ.

Ba nút thắt trên đều thuộc về thể chế và quy trình. Nút thắt thứ tư thuộc về con người. Đây là nút mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đích danh từ năm 1952: bệnh quan liêu.

Kết luận đối với một số đơn vị nêu nguyên nhân chủ quan gồm ba ý:“còn thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất”; đơn vị được giao chủ trì“chưa kịp thời tham mưu kiểm tra, giám sát việc thực hiện”; các đơn vị quản lý, sử dụng“chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện kịp thời sự chỉ đạo, chậm triển khai công việc”.

Ba ý ấy mô tả một chuỗi: Có chỉ đạo nhưng không có đôn đốc, có đôn đốc nhưng không có kiểm tra, có kiểm tra nhưng không có chế tài. Chuỗi ấy đứt ở đâu thì công việc dừng ở đó.

Con số trong bảng ba thời kỳ xác nhận nút thắt này chưa được gỡ. Tỷ lệ kết luận nêuhồ sơ pháp lý chưa đầy đủkhông giảm màtăng, từ 3,3% giai đoạn trước 2020 lên 42,9% năm 2026. Tỷ lệ nêu vấn đềtiêu chuẩn, định mứccũng tăng từ 3,3% lên 35,7%.

Có thể lập luận rằng tỷ lệ tăng là vì các kết luận năm 2026 đi sâu hơn vào đúng chuyên đề này nên phát hiện nhiều hơn. Điều đó đúng một phần. Nhưng dù giải thích thế nào thì thực tế vẫn là: Sau gần một thập kỷ, hồ sơ pháp lý của tài sản công vẫn là điểm yếu nhất. Nó là thứ chặn đứng mọi phương án xử lý ở khâu cuối cùng.

Tổng hợp lại, bức tranh mười ba năm có thể tóm trong sáu ý.

Ba cái đã chuyển.Thứ nhất là phạm vi: Từ thanh tra chọn mẫu sang thanh tra 100% đối tượng. Thứ hai là mục tiêu: Từ truy sai phạm sang khơi thông nguồn lực, thể hiện bằng chính cấu trúc của bản kết luận. Thứ ba là khung pháp lý: Từ chỗ chỉ có quy định chung sang chỗ có luật riêng định danh hành vi gây lãng phí, có nghị định chế tài, có nghị quyết cơ chế đặc thù.

Ba cái chưa chuyển.Thứ nhất là, hồ sơ pháp lý, vẫn là điểm nghẽn lớn nhất và có dấu hiệu nặng thêm. Thứ hai là, tiêu chuẩn, định mức, nhất là ở cấp cơ sở. Thứ ba là, sự phối hợp giữa cơ quan trung ương với địa phương, giữa cơ quan quản lý tài sản với cơ quan quản lý quy hoạch.

Điểm chung của ba cái chưa chuyển là chúng đều không nằm trọn trong thẩm quyền của một cơ quan nào. Muốn gỡ thì phải có người điều phối liên ngành, có mốc thời gian ràng buộc và có người chịu trách nhiệm về tiến độ.

Chính Tổng Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị đúng điều đó với Thủ tướng Chính phủ: Các bộ, ngành khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần gắn nội dung thực hiện vớiquy định thời gian hoàn thành, bảo đảm“rõ việc, rõ thời gian hoàn thành”để cơ quan quản lý có cơ sở kiểm soát, đánh giá.

Một kiến nghị tưởng như hành chính khô khan, nhưng nó chạm đúng gốc của vấn đề. Không có mốc thời gian thì không ai chậm cả, vì chẳng có gì để so.

Cách thanh tra đã đổi. Thể chế đã có. Cái còn thiếu là tốc độ. Mà tốc độ thì không đến từ văn bản, nó đến từ người thực hiện.

TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.