Thứ sáu, 18/09/2026

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang tăng, nhưng giữa nhu cầu vốn và điều kiện tiếp cận tín dụng vẫn tồn tại khoảng cách cần được thu hẹp.

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả kinh doanh, giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất, đổi mới sáng tạo và tham gia các chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực này vẫn tồn tại một khoảng cách cần được tiếp tục tháo gỡ.

Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức sáng 18/9. Hội nghị tập trung trao đổi về những vướng mắc từ cơ chế, chính sách, quy trình, sản phẩm tín dụng cũng như từ phía doanh nghiệp trong minh bạch thông tin và khả năng hấp thụ vốn.

Dòng vốn dành cho DNNVV tiếp tục tăng

Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, tín dụng là một trong những nguồn lực thiết yếu hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Thời gian qua, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, trong đó có DNNVV, tiếp cận vốn tín dụng.

Các giải pháp được triển khai đồng thời trên nhiều phương diện, từ hoàn thiện thể chế, ổn định mặt bằng lãi suất, điều hành tăng trưởng tín dụng đến hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng. Cùng với đó, ngành Ngân hàng đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác và kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ và AI có trách nhiệm nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng.

Những giải pháp này đang tạo ra kết quả nhất định. Đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Riêng DNNVV, có trên 100 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ, với tổng dư nợ trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.

Đáng chú ý, một chương trình tín dụng hướng đến DNNVV và các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực là động lực tăng trưởng được NHNN triển khai từ tháng 8/2026. Sau hơn một tháng, số ngân hàng thương mại công bố chương trình, sản phẩm ưu đãi đã tăng từ 4 ngân hàng thương mại Nhà nước đăng ký với quy mô 220 nghìn tỷ đồng lên 19 ngân hàng, với quy mô khoảng 407 nghìn tỷ đồng. Lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 1-2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của các ngân hàng.

Ở góc độ tín dụng, ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng, NHNN, cho biết trong giai đoạn 2021-2025, doanh số cho vay đối với DNNVV đạt trên 21,7 triệu tỷ đồng, bình quân trên 4,3 triệu tỷ đồng mỗi năm. Đến cuối tháng 8/2026, doanh số giải ngân lũy kế từ đầu năm đối với khu vực này đạt trên 3,8 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với cuối năm 2025.

Chính sách tín dụng cũng có những cơ chế ưu tiên đối với DNNVV. Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, những doanh nghiệp đáp ứng điều kiện về tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh được hưởng trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam ở mức 4%/năm. Hệ số rủi ro đối với khoản phải đòi của DNNVV theo các chuẩn mực Basel II và Basel III được quy định ở mức 85-90%, thấp hơn mức từ 100% trở lên áp dụng đối với doanh nghiệp khác.

Tuy nhiên, quy mô tín dụng tăng không đồng nghĩa mọi DNNVV đều có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Thực tế đặt ra yêu cầu không chỉ đưa thêm vốn ra nền kinh tế mà còn phải giải quyết những điều kiện khiến dòng vốn chưa đến được đúng doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng sử dụng hiệu quả.

Thu hẹp khoảng cách giữa doanh nghiệp và ngân hàng

Theo đại diện Vụ Tín dụng, những biến động của kinh tế thế giới, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào gia tăng và thị trường tiêu thụ thu hẹp tiếp tục tác động đến doanh thu, dòng tiền và khả năng trả nợ của DNNVV. Khi đầu ra thiếu ổn định, doanh nghiệp có thể giảm nhu cầu vay hoặc có nhu cầu nhưng phương án sản xuất, kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu về hiệu quả và khả năng trả nợ.

Ở chiều ngược lại, ngân hàng phải tuân thủ các yêu cầu ngày càng đầy đủ về quản trị rủi ro. Thông tin về khách hàng, phương án sử dụng vốn, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm phải đầy đủ, đáng tin cậy. Vì vậy, theo NHNN, tăng khả năng tiếp cận tín dụng không thể đồng nghĩa với hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng.

Một điểm nghẽn khác nằm ở dữ liệu. Thông tin phục vụ đánh giá DNNVV hiện còn phân tán; việc kết nối dữ liệu từ thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, hiệp hội ngành nghề và các nguồn chính thống khác chưa đầy đủ. Trong khi đó, một bộ phận DNNVV có vốn chủ sở hữu hạn chế, năng lực quản trị chưa đồng đều, báo cáo tài chính thiếu minh bạch hoặc chưa thống nhất giữa số liệu quản trị nội bộ và báo cáo thuế.

Những hạn chế này khiến khoảng cách giữa “doanh nghiệp cần vốn” và “doanh nghiệp đủ điều kiện tiếp cận vốn” vẫn tồn tại.

Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp cần vượt lên trên quan hệ đơn thuần giữa “người cho vay và người đi vay”, để trở thành những đối tác cùng phát triển. Theo ông, điều doanh nghiệp cần không chỉ là có thêm vốn mà quan trọng hơn là tiếp cận được nguồn vốn phù hợp, đúng thời điểm và với chi phí hợp lý.

Một trong những đề xuất được ông Đỗ Văn Vẻ nhấn mạnh là từng bước đổi mới phương thức đánh giá tín dụng đối với DNNVV, giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Theo đó, ngân hàng có thể đánh giá doanh nghiệp toàn diện hơn thông qua dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử thanh toán, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, uy tín doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của phương án kinh doanh.“Đừng chỉ nhìn doanh nghiệp hôm nay đang có bao nhiêu tài sản, hãy nhìn cả năng lực doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu giá trị trong tương lai”,ông Đỗ Văn Vẻ bày tỏ.

Cùng với đổi mới phương thức thẩm định, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên đề xuất đa dạng hóa sản phẩm tín dụng theo đặc điểm từng nhóm DNNVV. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ hay doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi số, chuyển đổi xanh có chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn khác nhau. Vì vậy, cần nghiên cứu phát triển tín dụng dựa trên dòng tiền, tín dụng theo chuỗi cung ứng, tài trợ đơn hàng, khoản phải thu và các sản phẩm trung, dài hạn phục vụ đầu tư máy móc, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Để mở rộng khả năng tiếp cận vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, vấn đề chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp cũng được đặt ra. Ông Đỗ Văn Vẻ cho rằng cần tiếp tục nâng cao hiệu quả của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, Quỹ Phát triển DNNVV và các công cụ hỗ trợ phù hợp.

Nếu ngân hàng phải gánh toàn bộ rủi ro, việc mở rộng tín dụng đối với những doanh nghiệp hạn chế về tài sản bảo đảm sẽ khó khăn. Ngược lại, theo ông, nếu Nhà nước có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, ngân hàng đổi mới phương pháp thẩm định và doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, có thể mở rộng cánh cửa tín dụng mà không phải hạ thấp chuẩn an toàn tín dụng.

Ở phía doanh nghiệp, yêu cầu tự nâng cao năng lực cũng được đặt ra rõ ràng. DNNVV cần cải thiện quản trị, minh bạch tài chính, quản lý dòng tiền, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh có tính khả thi. Đây cũng là điều kiện để ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá khả năng trả nợ và hiệu quả sử dụng vốn.

Về phía NHNN, định hướng thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện thể chế, điều hành chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và khả năng hấp thụ vốn; đồng thời hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có DNNVV.

Đối với các tổ chức tín dụng, phương thức đánh giá tín dụng được định hướng dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, chuỗi giá trị, lịch sử tín dụng và năng lực quản trị, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Các kênh như bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng và sản phẩm tài chính số cũng được định hướng phát triển để mở rộng lựa chọn cho DNNVV.

Bài toán vốn cho DNNVV không chỉ nằm ở quy mô nguồn cung tín dụng mà còn ở khả năng kết nối, đánh giá và hấp thụ vốn. Khi ngân hàng đổi mới cách tiếp cận, doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch và Nhà nước hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ, khoảng cách giữa nhu cầu vốn và điều kiện tiếp cận tín dụng có thêm cơ sở để được thu hẹp.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.