Vị trí chiến lược trong ASEAN
Ngày 8/6, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN (ASEAN Future Forum - AFF) 2026, đã diễn ra Tọa đàm “Mekong trong kiến trúc hợp tác tiểu vùng ASEAN: Hướng tới Tầm nhìn 2045” với sự tham dự của nhiều nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và học giả đến từ nhiều quốc gia. Các đại biểu đã trao đổi về vai trò của Mekong trong tiến trình hội nhập khu vực, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm tăng cường kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, góp phần hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.
Phát biểu mở đầu phiên thảo luận, bà Hoàng Thị Hà, Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện ISEAS - Yusof Ishak đã nhận định những cơ hội và thách thức đang định hình tương lai ASEAN được phản ánh rõ nét nhất ở cấp độ tiểu vùng, nơi các vấn đề khu vực hiện diện trực tiếp và cụ thể nhất.
Theo bà Hoàng Thị Hà, vai trò của Mekong đang mở rộng vượt ra ngoài phạm vi địa lý truyền thống dọc theo dòng sông để trở thành một không gian liên kết kinh tế và chiến lược ngày càng có ý nghĩa trong cấu trúc hợp tác ASEAN.
Bà Hoàng Thị Hà nhấn mạnh:“Sự phát triển nhanh của các tuyến giao thông xuyên biên giới, logistics và hạ tầng kết nối mới đang từng bước tái định hình cấu trúc liên kết giữa khu vực lục địa và các nền kinh tế ven biển ASEAN, tạo ra động lực mới cho hội nhập kinh tế khu vực.”
Ở góc độ khu vực, bà Sumitra Jayaseelan, đại diện Ban Thư ký ASEAN, cho rằng những thách thức mà Mekong đang phải đối mặt thực chất cũng là những vấn đề chung của nhiều tiểu vùng khác trong ASEAN.
Bà Sumitra Jayaseelan nhận định:“Từ biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng cho tới khoảng cách phát triển, chuyển đổi số hay yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và bao trùm, các cơ chế tiểu vùng trong khu vực đều đang xử lý những vấn đề có bản chất gần như giống nhau, dù biểu hiện có thể khác nhau theo từng khu vực địa lý".
Theo bà, điều ASEAN cần hiện nay không phải là tiếp tục mở rộng thêm các khuôn khổ hợp tác, mà là tăng cường kết nối và phối hợp hiệu quả hơn giữa các cơ chế hiện có. Trong đó, việc chia sẻ cả các mô hình thành công lẫn những bài học chưa thành công sẽ giúp các tiểu vùng tránh lặp lại các hạn chế trong quá trình triển khai chính sách.
Đáng chú ý, bà Sumitra cho biết thêm, Ban thư ký ASEAN cùng các cơ chế GMS (Chương trình Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mekong mở rộng), BIMP-EAGA và IMT-GT đã chính thức thông qua Kế hoạch Hành động chung giai đoạn 2026-2030, trong đó tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên gồm: Năng lượng, nông nghiệp và du lịch, được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác trong giai đoạn tiếp theo.
“Điều quan trọng không chỉ nằm ở việc thúc đẩy từng khuôn khổ hợp tác tiểu vùng, mà còn là tăng cường tính liên kết, bổ trợ lẫn nhau giữa các cơ chế hiện có, từ đó tạo sức mạnh cộng hưởng cho tiến trình hiện thực hóa Tầm nhìn ASEAN 2045”, bà Sumitra nhấn mạnh.
Từ góc độ thể chế, ông Suriyan Vichitlekarn, Giám đốc Viện Mekong cho rằng sau hơn 30 năm phát triển, Mekong vẫn đang trong quá trình xác lập rõ hơn vị trí và bản sắc chiến lược của mình trong kiến trúc hợp tác ASEAN.
Theo ông, sự tồn tại đồng thời của nhiều cơ chế như GMS, ACMECS (Chiến lược Hợp tác kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong), Mekong - Lan Thương cùng nhiều sáng kiến song phương và đa phương khác đã tạo nên mạng lưới hợp tác phong phú nhưng cũng dẫn tới tình trạng phân tán nguồn lực, chồng chéo ưu tiên và thiếu một cơ chế điều phối đủ mạnh.
TS. Anoulak Kittikhoun, Cố vấn Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lào, cho rằng, cần thay đổi cách nhìn về Mekong. Theo ông, tiểu vùng này không nên chỉ được xem là khu vực cần hỗ trợ hay bảo tồn, mà cần được định vị là một trung tâm tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và khả năng chống chịu của ASEAN. Ông cho rằng Mekong đang ngày càng đóng góp rõ nét vào chuỗi giá trị khu vực thay vì chỉ đóng vai trò thụ hưởng.
TS. Anoulak Kittikhoun dẫn chứng:“Mekong hiện sản xuất khoảng 20-23 triệu tấn gạo mỗi năm, đóng vai trò trụ cột trong an ninh lương thực ASEAN, trong đó riêng Singapore nhập khẩu khoảng 40-60% nhu cầu gạo từ các quốc gia Mekong. Bên cạnh lương thực, khu vực này còn là nguồn cung quan trọng về thủy sản và nông sản cho toàn bộ khu vực.”
TS. Anoulak Kittikhoun, Cố vấn Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lào cho rằng, cần thay đổi cách nhìn về Mekong. Ảnh: Diệu Linh
Trong lĩnh vực năng lượng, ông cho rằng Mekong không chỉ có lợi thế về thủy điện mà còn sở hữu tiềm năng lớn trong phát triển năng lượng tái tạo. Những mô hình hợp tác như dự án điện Lào - Thái Lan - Malaysia - Singapore cho thấy triển vọng hình thành các mạng lưới năng lượng xuyên biên giới trong tương lai.
Bên cạnh đó, du lịch và hạ tầng kết nối, đặc biệt là tuyến đường sắt Lào - Trung Quốc, đang góp phần đưa Mekong trở thành mắt xích quan trọng trong không gian ASEAN mở rộng và kết nối với các đối tác ngoài khu vực.
Liên kết các cơ chế vì Tầm nhìn ASEAN 2045
Trong phiên thảo luận bàn tròn, Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam Renee Deschamps khẳng định, Australia xem Đông Nam Á là khu vực có ý nghĩa chiến lược lâu dài và tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hợp tác thực chất với các quốc gia Mekong.
Bà cho biết:“Australia đã duy trì hỗ trợ hơn 70 năm đối với khu vực, đặc biệt thông qua hợp tác với Ủy hội sông Mekong, các chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp bền vững và gói cam kết hơn 450 triệu AUD trong khuôn khổ Đối tác Mekong-Australia, với trọng tâm là chuyển đổi năng lượng và tăng cường khả năng chống chịu khu vực.”
Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam Renee Deschamps khẳng định, Australia xem Đông Nam Á là khu vực có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Ảnh: Diệu Linh
Trong khi đó, ông Asoka Rasphone, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao Lào cho biết, Mekong là không gian phát triển quan trọng của các quốc gia ven sông nhưng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ chế hiện có.
Theo ông, vấn đề không nằm ở việc thiếu sáng kiến mà chủ yếu ở sự phân tán nguồn lực và thiếu liên kết trong quá trình triển khai. Vì vậy, cần tăng cường điều phối giữa các cơ chế tiểu vùng với ASEAN, xây dựng danh mục các dự án ưu tiên chung và thúc đẩy chia sẻ thông tin trong những lĩnh vực xuyên biên giới như an ninh nguồn nước, quản lý rủi ro và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia.
Ông Him Rotha, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khu vực Campuchia chia sẻ, nhiều cơ chế hợp tác hiện nay vẫn hoạt động rời rạc và chịu tác động từ các biến động chính trị trong nước của từng quốc gia.
Ông đề xuất:“Cần đơn giản hóa cấu trúc hợp tác, tăng cường chia sẻ dữ liệu và ưu tiên các lĩnh vực kỹ thuật như cảnh báo sớm thiên tai, quản lý nguồn nước và hợp tác an ninh phi truyền thống, nhằm bảo đảm tính liên tục và hiệu quả của hợp tác Mekong.”
Về phía đại diện Việt Nam, ông Từ Anh Tuấn, Quyền Giám đốc Trung tâm Phát triển và Ngoại giao kinh tế, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh Mekong đang nằm trong không gian giao thoa giữa các trục kết nối Đông - Tây và Bắc - Nam, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều sáng kiến hợp tác khu vực. Do vậy, ASEAN cần đóng vai trò điều phối trung tâm nhằm bảo đảm tính bổ trợ giữa các cơ chế, qua đó tăng cường khả năng tự chủ chiến lược và hiệu quả liên kết của tiểu vùng.
Từ những thảo luận tại Tọa đàm, có thể thấy tương lai của Mekong không chỉ gắn với sự phát triển của các quốc gia ven sông mà còn gắn chặt với tương lai của ASEAN. Khi các thách thức về biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, năng lượng hay phát triển bền vững ngày càng mang tính liên kết, việc tăng cường phối hợp giữa các cơ chế tiểu vùng và phát huy vai trò điều phối của ASEAN sẽ là chìa khóa để Mekong trở thành một cực tăng trưởng năng động, đóng góp thiết thực vào hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.