Khoa học cơ bản được xem là nền tảng cốt lõi để phát triển các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi của quốc gia, từ công nghệ lượng tử đến công nghiệp vật liệu và các lĩnh vực công nghệ cao khác.
Liên quan nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Đại Lâm - Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng) về vai trò của khoa học cơ bản trong phát triển các công nghệ chiến lược như công nghệ lượng tử, vật liệu mới, bán dẫn hay năng lượng mới.
GS.TS Trần Đại Lâm - Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng)
Khoa học cơ bản là nền móng của công nghệ chiến lược
- Thưa GS. TS Trần Đại Lâm, gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm liên tiếp chủ trì các cuộc làm việc về phát triển công nghệ lượng tử, công nghiệp vật liệu và khoa học, công nghệ. Theo Giáo sư, mối liên hệ giữa các nội dung này là gì?
GS. TS Trần Đại Lâm:Theo tôi, cả ba nội dung đều có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau và đều liên quan trực tiếp đến khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học cơ bản - nền móng để xây dựng các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi.
Ví dụ, để phát triển được công nghệ lượng tử thì phải có nền tảng vật lý học, đặc biệt là cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử đã hình thành từ hơn 100 năm trước. Đến nay, với những phát minh mới như rối lượng tử hay chồng chập lượng tử, thế giới mới đặt ra yêu cầu phải làm chủ công nghệ lượng tử. Nếu chúng ta tụt hậu thì sẽ không theo kịp các vấn đề liên quan đến bảo mật, an toàn thông tin hay truyền thông lượng tử.
Trong lĩnh vực công nghiệp vật liệu cũng vậy. Để phát triển được ngành này, các nền tảng như hóa học, vật lý, luyện kim có vai trò vô cùng quan trọng. Tất cả đều xuất phát từ khoa học cơ bản và phải có khoa học cơ bản mạnh mới có thể phát triển công nghiệp vật liệu.
Công nghiệp vật liệu gồm nhiều tầng. Tầng thứ nhất là vật liệu nền như sắt thép, xi măng, nhựa… nhưng vật liệu chiến lược được đặc biệt nhấn mạnh. Đó là các loại vật liệu phục vụ năng lượng, bán dẫn, y sinh, hàng không vũ trụ hay vật liệu liên quan đến đất hiếm.
Đây đều là những lĩnh vực chúng ta cần phải làm chủ, nhất là trong bối cảnh Việt Nam có trữ lượng đất hiếm rất lớn, đứng thứ hai thế giới. Vì vậy, mối quan hệ giữa khoa học cơ bản với công nghệ lượng tử, công nghiệp vật liệu hay các công nghệ chiến lược là rất rõ ràng.
Tôi hoàn toàn đồng tình với các chủ trương và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Theo tinh thần mà chúng tôi lĩnh hội được trong các cuộc làm việc vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn xây dựng một chương trình hành động rất cụ thể, xác định rõ lộ trình phát triển, lĩnh vực nào ưu tiên trước, lĩnh vực nào ưu tiên sau.
Trong đó, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phải đi trước một bước. Chúng ta cần có chiến lược thu hút học sinh tài năng từ các trường phổ thông chuyên, đặc biệt trong các lĩnh vực toán, lý, hóa, sinh. Đồng thời có cơ chế học bổng cho sinh viên đại học, chế độ dành cho nghiên cứu sinh toàn thời gian, nghiên cứu sinh xuất sắc. Chỉ khi có được đội ngũ khoa học, công nghệ đủ trình độ và năng lực, chúng ta mới có thể tiếp cận trình độ khoa học cơ bản của thế giới.
Cần cơ chế đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro
- Thực tế cho thấy, nghiên cứu khoa học cơ bản khó tạo ra hiệu quả ngay tức thì hoặc khó nhìn thấy kết quả ngay. Theo Giáo sư, cần làm gì để xây dựng được cơ chế đầu tư đủ dài hạn, đủ tin tưởng và chấp nhận rủi ro để thúc đẩy khoa học cơ bản phát triển?
GS. TS Trần Đại Lâm:Khoa học cơ bản muốn phát triển cần sự đầu tư dài hạn và một chiến lược rõ ràng. Khác với khoa học ứng dụng, khoa học cơ bản không mang lại lợi ích ngay lập tức. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhớ rằng, chính khoa học cơ bản là nền tảng tạo ra các phát minh và công nghệ quan trọng.
Ví dụ như công nghệ lượng tử hiện nay bắt nguồn từ các phát minh trong vật lý học. Hay trong công nghệ sinh học, những nghiên cứu về ARN truyền tin chính là cơ sở để phát minh ra vaccine mRNA.
Hiện nay, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia là một trong những nguồn tài trợ quan trọng cho các đề tài nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, mỗi đề tài thông thường chỉ được cấp kinh phí khoảng 1 - 2 tỷ đồng trong thời gian tối đa 3 năm, kèm yêu cầu phải công bố từ 3 - 4 bài báo quốc tế. Ngay cả với các đề tài nghiên cứu ứng dụng hoặc phát triển công nghệ, kinh phí hiện nay cũng chưa thực sự tương xứng. Nhiều đề tài công nghệ chỉ được cấp khoảng 6 - 8 tỷ đồng trong thời gian tối đa 3 năm nhưng phải tạo ra công nghệ hoàn chỉnh hoặc nguyên mẫu sản phẩm. Trong khi có những hướng nghiên cứu cơ bản cần theo đuổi 5 năm, 10 năm, thậm chí 15 năm mới có thể tạo ra kết quả đột phá.
Với mức kinh phí này, chúng ta mới chỉ đáp ứng khoảng 50 - 70% so với điều kiện nghiên cứu của các đồng nghiệp tại Thái Lan, Malaysia hay các nước phát triển như EU, Mỹ, Hàn Quốc trong khi nhiều lĩnh vực đòi hỏi thời gian nghiên cứu kéo dài và hạ tầng phòng thí nghiệm hiện đại. Vì vậy, rất khó để các nhà khoa học có đủ thời gian theo đuổi những nghiên cứu mang tính đột phá.
Vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản cần mang tính dài hạn và ổn định. Chính vì vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng các chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc, trong đó nhấn mạnh việc đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản. Điều quan trọng là nguồn đầu tư phải ổn định và lâu dài để nhà khoa học có thể kiên trì theo đuổi định hướng nghiên cứu của mình.
Bên cạnh đó, các cơ chế tài chính cũng cần tiếp tục được tháo gỡ theo hướng chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, chẳng hạn cơ chế đầu tư theo gói (block funding). Theo tôi, đây sẽ là những cú hích quan trọng giúp các nhà khoa học yên tâm theo đuổi đam mê nghiên cứu khoa học cơ bản.
Gỡ “điểm nghẽn” liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp
- Hiện nay, khu vực doanh nghiệp khoa học, công nghệ và các khu công nghệ cao đã phát triển mạnh hơn. Giáo sư đánh giá như thế nào về khả năng kết nối giữa nghiên cứu cơ bản với doanh nghiệp và khu vực sản xuất công nghiệp tại Việt Nam?
GS. TS Trần Đại Lâm:Đây chính là một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay và cũng là vấn đề đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phân tích rất sâu sắc.
Mối liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp hiện còn khá yếu. Theo tôi, nguyên nhân đến từ cả hai phía.
Về phía các nhà khoa học trong viện, trường, lâu nay chúng ta quen với cách tiếp cận “từ dưới lên”, tức là chủ yếu xuất phát từ đam mê nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, chủ động đề xuất hướng nghiên cứu mà chưa thực sự quan tâm đầy đủ tới nhu cầu của xã hội hay doanh nghiệp.
Trong khi đó, phía doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn thiên về sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu công nghệ có sẵn từ nước ngoài. Số lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ chưa nhiều nên nhu cầu cải tiến sáng chế và hợp tác với các nhà khoa học cũng chưa thật sự lớn.
Chính vì vậy, mối liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp còn tương đối lỏng lẻo. Tuy nhiên, tôi kỳ vọng rằng, với các chủ trương mới, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, một trong những nghị quyết mang tính trụ cột hiện nay, cộng đồng khoa học và doanh nghiệp sẽ có sự bắt tay chặt chẽ hơn.
Các nhà khoa học cần tìm trong doanh nghiệp những vấn đề thực tiễn để trở thành đối tượng nghiên cứu của mình. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần đồng hành với nhà khoa học từ sớm, ngay từ khi các kết quả còn trong phòng thí nghiệm, cho tới khi hình thành sản phẩm cuối cùng phục vụ sản xuất và đời sống. Theo tôi, đây là yếu tố rất quan trọng trong thời gian tới.
Tập trung nguồn lực cho các nghiên cứu trọng điểm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh khoa học cơ bản là nền tảng tri thức của quốc gia. Theo Giáo sư, yêu cầu này đặt ra những thay đổi gì trong tư duy quản lý và đầu tư cho khoa học cơ bản tại Việt Nam, đặc biệt đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam?
GS. TS Trần Đại Lâm:Theo tôi, đây là chỉ đạo rất quan trọng bởi lần này quan điểm được xác định rất rõ: khoa học cơ bản là nền tảng tri thức của quốc gia.
Trước đây, chúng ta thường nghĩ khoa học cơ bản là lĩnh vực rất chuyên ngành, tương đối hẹp và các nhà khoa học chủ yếu tự do theo đuổi đam mê nghiên cứu của mình. Nhưng với quan điểm chỉ đạo hiện nay của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, khoa học cơ bản vẫn phải dựa trên đam mê nghiên cứu, song cần có định hướng phục vụ phát triển công nghệ chiến lược và công nghệ lõi của quốc gia. Đây chính là thay đổi căn bản.
Các nhà khoa học vật lý, hóa học, sinh học cần tăng cường nghiên cứu liên ngành, phối hợp với nhau trong các nhóm nghiên cứu lớn hơn, liên ngành hơn, thậm chí xuyên quốc gia và xuyên biên giới. Chỉ như vậy, khả năng thành công trong phát triển công nghệ và làm chủ công nghệ mới cao hơn.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trước khi là đơn vị sự nghiệp thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện đã trải qua một đợt tái cấu trúc lớn theo Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Từ ngày 1/4/2026, sau khi chuyển về trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, định hướng sắp tới tập trung vào khoảng 7 - 8 hướng nghiên cứu trọng điểm. Mục tiêu là tập trung nguồn lực, tập trung cơ sở phòng thí nghiệm, tạo ra khối lượng nghiên cứu và thực nghiệm đủ lớn để tạo ra bước chuyển biến về chất.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đang triển khai đề án tăng cường năng lực nghiên cứu. Việc đầu tư sẽ tập trung vào các hướng ưu tiên, dựa trên thế mạnh của đội ngũ khoa học trong nước cùng lợi thế về tài nguyên, vị trí địa lý và đa dạng sinh học của Việt Nam. Qua đó, hướng tới tạo ra những kết quả nghiên cứu có giá trị cao hơn ở cả tầm khu vực và quốc tế.